Hiển thị các bài đăng có nhãn nhiếp ảnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhiếp ảnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 20 tháng 10, 2016

Bảy điều bạn không muốn nghe về nhiếp ảnh :D

Theo tác giả Andy Nguyen
Nhiếp ảnh là một thú vui và bổ ích cho nhiều người và là một nghề nghiệp tuyệt vời cho nhiều người khác. Tuy nhiên, không hẳn mọi thứ đều là “hoa hồng và nắng ấm”. Ðây không phải nói rằng nhiếp ảnh có một “dark side” (mặt đen tối), nhưng nó cũng có một vài đặc tính lạt lẽo mà một vài người mới bắt đầu chỉ không muốn nghe qua. Thay vì làm như “từ cung trăng rơi xuống”, bạn có thể chuẩn bị để đối phó thực tế với list của những món mà người mới bước vô nhiếp ảnh (hoặc bà xã của họ) không muốn nghe.
  1. Nó tốn tiền
Thật sự không có cách nào để tránh điều này. Nhiếp ảnh là một môn chơi tốn tiền, dù bạn có nhìn theo cách nào đi nữa. Thường thì những gì liên quan tới máy móc kỹ thuật tối tân đều mắc tiền. Thân máy thì tốn từ bạc trăm tới bạc ngàn, nhiều ống kính còn tốn hơn vậy. Bạn cũng cần kính lọc, chân máy tripod, đèn flash v.v… rồi bạn cũng cần một túi xách để mang đi tất cả những thứ đó. Ngay cả nếu bạn bắt đầu với dụng cụ “lỗi thời” xài rồi, ở một điểm nào đó, bạn sẽ muốn hoặc cần đồ mới hoặc “mới đối với bạn”, và khi thời gian đó tới, hãy chuẩn bị mở bóp và xòe tiền hoặc “chạc” vào thẻ plastic. Nhưng phải thận trọng! Ðừng mua dụng cụ mới chỉ vì nó mới và “láng coóng”. Chỉ mua nó vì bạn cần nó hoặc vì dụng cụ hiện tại của bạn không còn theo kịp với kỹ năng của bạn nữa.

2. Nó đòi hỏi sự tận tâm
Nếu bạn giống nhiều người, có một giai đoạn thời gian “lãng mạn” ở điểm bắt đầu của bất cứ sở thích mới nào. Bạn tự chìm đắm trong nó; bỏ ra từng phút của thời gian rảnh của mình để học hỏi và thực tập. Rồi, một thời gian sau, “cuộc tình” đó bắt đầu phai dần đi và khả năng của bạn cũng… chúi thẳng xuống. Nhiếp ảnh cũng có nhiều cái giống như những thú tiêu khiển khác, như học chơi một nhạc cụ. Bạn sẽ không tiến bộ trừ khi bạn tập luyện – rất nhiều. Bạn phải có sự tận tụy. Chiếc máy ảnh của bạn nằm đóng bụi trên bàn càng lâu, thì cơ hội bạn phát triển khả năng để chụp được những tấm hình đẹp như bạn mong muốn lại càng thấp. Theo tôi biết, có rất nhiều người, lúc đầu họ rất mê chụp hình, mua máy ảnh về cũng mày mò chụp lia chụp lịa. Rồi tới một điểm nào đó, họ gác máy luôn, không đụng tới nữa. Tương tự với một người học đàn guitar, lúc đầu thì rất say mê học hỏi, nhưng lại bị “đau ngón tay” hay vì lý do nào đó, gác đàn vô một góc nào đó trong tủ quần áo luôn. Mặc dù điện thoại cầm tay đã làm nhiếp ảnh khá tiện lợi với những bộ phận chụp hình và có khả năng chạy những apps sửa hình luôn, nếu bạn muốn thật sự tiến một bước cao hơn để thành một người chụp ảnh giỏi hơn, bạn sẽ cần học những căn bản về bố cục, ánh sáng, và sửa hình hậu kỳ, và rồi tập luyện những kỹ năng đó lặp đi lặp lại nhiều lần.

Tập luyện chụp ảnh thường xuyên với nhóm bạn ảnh.
3. Nhiếp ảnh không phải chỉ để câu Likes
Chúng ta sống trong một thế giới “sống chết” vì mạng xã hội. Ðó không hẳn là một điều sai quấy hoặc xấu xa, nhưng mạng xã hội không phải là nơi tốt nhất cho một người đang bước vào nhiếp ảnh để học và phát triển. Có hai lý do chính cho điểm này: Úp hình lên mạng xã hội (Facebook, v.v.) có thể hút bạn vào một ý niệm ảo tưởng rằng số lượng Likes có liên quan tới phẩm chất của ảnh bạn. Không có chuyện đó đâu. Một bức ảnh thật sự tuyệt vời có thể sẽ không “câu” được nhiều likes; nhưng vẫn không thay đổi thực tế rằng nó thật đẹp. Ngược lại, một tấm ảnh “không đúng kỹ thuật” lại có thể được cả đống likes. Bạn không nên đánh giá phẩm chất ảnh của bạn dựa theo những yếu tố đó. Ða số hình ảnh bạn post (úp) lên mạng xã hội sẽ không nhận lời bình phẩm xây dựng, và nếu không có người “khen đúng” hoặc “sửa sai”, thì làm sao bạn học và phát triển về nhiếp ảnh? Friends của bạn sẽ “like” ảnh của bạn vô điều kiện vì họ muốn bạn vui, feel good. Mặc dù cử chỉ đó rất có ý tứ và dụng ý tốt, nó vẫn không giúp gì nhiều để giúp bạn tiến lên trong phương diện của một người photographer. Ðây không có nghĩa là bạn không nên úp hình lên mạng xã hội. Nhưng bạn nên bổ sung nó với những hoạt động khác có đem lại lời bình xây dựng cho bạn. Gia nhập một câu lạc bộ nhiếp ảnh, học một lớp nhiếp ảnh ở trường college địa phương, hoặc tham dự trên một diễn đàn nhiếp ảnh online để nhận được phản hồi bạn cần thiết để tiến bộ. Và nếu bạn nhất định chỉ post hình trong mạng xã hội, bạn cần tìm đến (và hy vọng kết bạn) với những người chụp ảnh giỏi hơn bạn vài bậc.
4. Bạn cần đúng đồ nghề
Ống kính kit lens đi chung với máy ảnh mới mua của bạn không phải là đồ nghề thích hợp nếu bạn muốn chụp thể loại ảnh cận “đúng điệu”. Bạn muốn chụp thú hoang dã ở khoảng cách xa ư? Bạn sẽ cần một ống kính đặc biệt cho nó. Nếu bạn muốn setup một studio, bạn sẽ cần dàn đèn, hộp lọc ánh sáng, màn phông… Ðó là chỉ nói sơ sơ vài món chính thôi. Mặc dù bộ đồ nghề đầu tiên của bạn sẽ dư sức để giúp bạn học nhiếp ảnh, nhưng rồi sẽ tới một lúc khi bạn cần bắt đầu sưu tầm đồ nghề để đáp ứng những nhu cầu nhiếp ảnh mà bạn muốn theo.

Một ba lô chứa đầy đồ nghề nhiếp ảnh cũng nặng ít nhất 8-10 pounds.
5. Một lần nữa, đồ nghề không thành vấn đề
Dĩ nhiên, có ống kính “ngon” nhất, và máy ảnh “xịn” nhất trên thế giới sẽ không tự động biến bạn thành một người chụp ảnh giỏi. Thời gian bỏ ra học những nguyên tắc căn bản – ánh sáng, bố cục, cách lấy khung… sẽ là những điều có ảnh hưởng lớn nhất vào phẩm chất ảnh do bạn tạo ra. Thật vậy, bạn có thể chụp ảnh đẹp hơn với smartphone nếu bạn tập luyện những khía cạnh kỹ thuật và sáng tạo của nhiếp ảnh hơn là nếu bạn chỉ đi mua dụng cụ mắc tiền nhất rồi nhào vô chụp liền mà không học cách chụp ảnh. Kinh nghiệm thật quan trọng nếu bạn muốn trở thành một tay ảnh giỏi hơn. Chắc chắn là đồ nghề “chiến” sẽ giúp một phần, nhưng trên con đường dài, nhiếp ảnh là một quá trình tận tâm học hỏi, và điều đó sẽ cần thời gian.

Ruồi đậu trên vải quần. Qua ống kính chuyên môn chụp ảnh cận sẽ thấy rõ từng chi tiết mắt ruồi và sớ vải. Photo: Hayath
6. Đồ nghề nặng
Cứ cho là không phải ai cũng bỏ tất cả đồ nghề vào ba lô hoặc túi máy ảnh và vác đi lang thang cả ngày. Nhưng ngay cả việc chuyển tải những món đồ nghề đó từ trong nhà ra chiếc xe đậu ngoài lề đường cũng đã là một việc “oải”, nhất là nếu bạn có thói quen đem theo TẤT CẢ đồ nghề cho mỗi buổi chụp. Dù cho bạn không đem theo tất cả đồ nghề của bạn, tới lúc bạn chất vào túi xách với thân máy DSLR, hai ba ống kính, chân máy, một bộ kính lọc, và những thứ căn bản khác, bạn sẽ phải vác ít nhất 8-10 pounds. Nhiêu đó nghe có vẻ không phải là nặng lắm, nhưng sau vài giờ, nó cũng làm cho bạn… xụi tay, xụi lưng. Bài học của câu chuyện này? Xếp gọn và nhẹ. Nếu bạn có ba ống kính, đem hai thôi. Nếu sẽ không cần chân máy, đừng đem nó theo hoặc chỉ đem một cái nhỏ loại du lịch. Làm những gì bạn có thể làm để giới hạn trọng lượng bạn mang theo và lưng, cổ, và vai sẽ cám ơn bạn.
7. Chuẩn bị mất ngủ
Nhiều thể loại nhiếp ảnh cần diễn ra ở thời điểm sáng sớm hoặc đêm khuya: chụp phong cảnh, chụp trời sao, và chụp ảnh du lịch là một vài ví dụ. Hiển nhiên, bạn sẽ khó chụp mặt trời mọc nếu bạn thức dậy sau khi mặt trời đã lên. Dù bạn theo thể loại ảnh nào đi nữa, chụp một tấm ảnh đẹp lúc 9 giờ sáng là một chuyện, nhưng chụp một tấm ảnh đẹp lúc 4:30 giờ sáng trong trạng thái buồn ngủ là một vấn đề hoàn toàn khác. Tóm lại, chắc chắn nhiếp ảnh là một sự thử thách. Tôi kể ra những điểm này không phải để làm bạn nản lòng, nhưng để giúp bạn thấy được một vài chướng ngại trước mắt. Và ngày nào bạn chấp nhận nó, ngày đó bạn sẽ có thể vượt qua những thử thách của môn chơi cực kỳ thú vị này.

Các tay chụp ảnh nên chuẩn bị tinh thần để… thiếu ngủ.

Nhiếp ảnh với iPhone 7 Plus

Theo tác giả Andy Nguyen
Từ khi hãng Apple tuyên bố cho ra kiểu điện thoại iPhone 7 và 7 Plus tuần rồi, trên những diễn đàn online có nhiều sự bàn tán sôi nổi, đa số là họ “không care” vì chiếc iPhone 7 bề ngoài nhìn không khác gì với iPhone 6 đời trước. Vậy tại sao họ nên “care”? 12MP thì quá đủ
Ðồng ý rằng hầu hết những máy ảnh DSLR và P&S thời nay có độ phân giải 20MP hoặc cao hơn, nhưng nếu chúng ta nói một cách thật thà, 12MP cũng quá đủ cho nhu cầu của bạn. Chụp được RAW Thêm vào khả năng chụp RAW cho điện thoại iPhone là Apple cho những người thích chụp ảnh thêm cơ hội để sáng tạo, và giảm nhẹ bớt một số giới hạn của việc chụp ảnh với một dụng cụ hơi yếu kém này.

Một số hình ảnh được chụp bằng máy ảnh iPhone 7 Plus: trận đấu football giữa hai đội Titans và Vikings. Photo: David E. Klutho (Sports Illustrated)
Máy iPhone 7 Plus có khả năng “zoom” Chiếc iPhone 7 và 7 Plus có sensor 12MP – rất có thể là loại BSI-CMOS cỡ 4.9 x 3.7mm nên có độ crop khoảng 7X. Riêng chiếc iPhone 7 Plus thì có tới hai sensors, tạo thành hai máy ảnh chụp được tiêu cự 28mm và 56mm. Khẩu độ f1.8 và f2.8 của hai “ống kính” đó ngang hàng với chiều sâu trường cảnh của f12 và f22 của máy bình thường. Ðộ zoom hai bước (nhảy từ 28mm qua 56mm liền) thì chẳng gì “big deal” lắm, nhưng đối với một người mới cầm máy ảnh lần đầu tiên, hoặc một người chuyên chụp ảnh bằng smartphone, sự uyển chuyển của nó để lựa chọn tiêu cự là một điểm “bán hàng” của iPhone 7 Plus trên những phone khác trên thị trường. Một ống kính zoom thực thụ sẽ quá cực kỳ phức tạp, nhưng cách thiết kế của Apple cũng rất có lý. Một ống kính cho chụp phong cảnh, và một cho chân dung. iPhone 7 Plus có thể lấy “bô-kê” Chúng ta đã từng thấy những tấm ảnh được sửa background cho mờ (nhất là những ảnh chân dung) bằng phần mềm chẳng hạn như Photoshop, nhưng những ảnh đó nhìn thấy rất “giả”. Apple có vẻ đang làm hai việc hơi khác. Thứ nhất là đặc điểm này chỉ có thể hoạt động trong mode ‘Portrait’ (khi ống kính 56mm của máy iPhone 7 Plus được chọn). Thứ nhì là thay vì chỉ “nhận diện” chủ thể trong ảnh, làm một màn chắn, rồi làm mờ tất cả những gì mà nhìn không giống chủ thể, phần mềm của chiếc iPhone 7 Plus tạo một sơ đồ rất phức tạp của khung cảnh đó, và áp dụng độ mờ dựa theo khoảng cách của hậu cảnh từ người chụp.

Vô địch US Open 2016 Stan Wawrinka nhận cúp. Giữa nhóm nhà báo có một phóng viên làm phóng sự ảnh bằng iPhone 7 Plus. Photo: Landon Nordeman (ESPN)
Có hệ thống chống rung Ðây không phải là một “tin mới” trong thị trường máy ảnh, nhưng sự chống rung vẫn chưa được cài vào một số máy ảnh đơn kính (không thay ống kính được). Hệ chống rung sẽ làm cho những máy ảnh iPhone 7 và 7 Plus hữu dụng hơn trong điều kiện thiếu ánh sáng, nới rộng tiềm năng của chúng cho loại nhiếp ảnh xã hội và môi trường. Máy ảnh iPhone tốt sẽ dẫn đến máy ảnh ‘đàng hoàng’ tốt hơn Dù bạn có là một trong những người không ưa chuộng chụp ảnh bằng smartphones gì mấy, hãy cân nhắc điều này:

Máy ảnh của iPhone 7 Plus được trang bị với hai ống kính.
Khi đại chúng đòi hỏi càng nhiều từ những máy ảnh điện thoại của họ, thì họ càng đòi hỏi nhiều hơn từ những máy ảnh ‘đàng hoàng’ khi họ muốn mua nó. Có thể nói rằng lý do chúng ta có những thứ như màn ảnh touch-screen high-resolution tuyệt đẹp, điều khiển cách không (wireless), GPS và video 4K trong những đời máy ảnh thời nay là nhờ iPhone. Rằng mười năm trước, Apple khởi dậy một cuộc cách mạng smartphone với chiếc iPhone đời đầu tiên, dẫn đến sự kết nhập của những đặc điểm này trong máy ảnh thật. Ðiều này khiến những hãng chế tạo máy ảnh cho thêm những đặc điểm đó vào sản phẩm của họ, và tất cả chúng ta đều được hưởng. Chỉ nhiêu đó thôi cũng đủ cho Già tui suy nghĩ về một em Iphone 7 Plus gồi á,dù rằng vừa nhận thông tin”Iphone 7 cũng cháy nổ!và một bản so sánh tính hơn hẳn của em LG V20 so với Iphone 7S(xem ở đây)về màn hình và pin cùng một số tính năng khác, nhất là về giá cả. Nhưng thôi, xài smart phone Android nào giờ rồi vì ghét táo. Lần ni thử chuyển đổi, ráng thương táo một lần coi. Dứt khoát, NGÀY MAI Già tui đi tậu một em :P

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2015

5 lời khuyên cho người bắt đầu (kỳ 165)của nhiếp ảnh gia Andy Nguyen.

Nguồn: Báo Trẻ Online
Có thể bạn là người mới bước vào thế giới Nhiếp ảnh. Đột nhiên, như bước vào một thế giới của “đồ nghề” và kỹ thuật. Và khi bạn nóng lòng để bắt đầu chụp ảnh, bạn hay vấp ngã vì: bạn hỏi toàn những câu hỏi sai.
Nếu có cơ hội để hỏi và tìm một lời khuyên của những tay chụp có kinh nghiệm hoặc người dạy nhiếp ảnh, đa số những “tay mới” sẽ hỏi về máy nào “đúng”, hoặc ống kính nào “đúng”, hoặc “một lời khuyên” nào sẽ lập tức làm họ 50 lần giỏi hơn.
Nhưng hãy cho phép tôi, bẻ lái bạn theo đúng hướng và tránh những câu hỏi này… ít nhất trong thời gian đầu. Làm theo những lời khuyên (thường bị coi thường) và bắt đầu cuộc hành trình nhiếp ảnh của bạn.
Tiên học chụp, hậu học… đồ nghề
Có người cho rằng thà bỏ tiền ra mua kinh nghiệm còn hơn mua đồ nghề. Nếu được lựa chọn giữa một máy ảnh mới và ống kính, và một khóa học nhiếp ảnh hoặc chuyến đi tới một địa điểm tuyệt vời, đa số những người mới bắt đầu học - sẽ chọn đồ nghề. Đừng mắc vào bẫy này.
Máy 1DX đó sẽ không làm gì cho bạn nếu bạn không biết dùng nó.
Chụp cho bạn, không phải cho tất cả mọi người khác
Nếu bạn chụp hình để được nhiều số views (số click), faves, likes, comments, hay bất cứ lời khen nịnh (hoặc lịch sự) - bạn đi lầm đường rồi. Vấn đề này áp dụng với tất cả dạng nghệ thuật, nhưng đặc biệt khi bạn là một tay mới, chỉ có một khán giả bạn nên chụp cho, và đó là chính bạn.
Chụp những đề tài bạn ưa thích, những gì gây cảm hứng cho bạn, miễn sao những gì bạn chụp đem lại cho bạn niềm vui trước nhất. Đừng trao đổi tô phở bò viên của bạn cho một chén tương ớt: chụp cho chính bạn, không phải ai khác.

Một người bắt đầu rất… nhiệt tình :)
Cố ý tự giới hạn mình
Một trong những cách tiến bộ tốt nhất khi bạn mới bắt đầu là tự giới hạn mình. Đặc biệt là đồ nghề.
Thử chụp với chỉ một ống kính vài tháng và bạn sẽ thấy điều gì xảy ra với khả năng của mình. Tự đặt cho mình giới hạn về đồ nghề hay thời gian mỗi ngày bạn được “cho phép” đi chụp, hoặc thậm chí tự giới hạn mình chỉ chụp ảnh trắng đen cả tháng - là một trong những cách hay nhất để tiến bộ.
Tìm “khiếu” của bạn
Đây là một sự nối tiếp của điểm trên, nhưng nó vẫn có thể đứng riêng một mình.
Mỗi người mới bắt đầu đều có giấc mơ họ là những tay Nhiếp ảnh gia nổi danh như Ansel Adams, Diane Arbus, Dorothea Lange, Henri Carier-Bresson, Michael Nichols nhập thành một. Nhưng bạn không thể khắc phục chân dung, phong cảnh, du lịch, tỉnh vật, phóng sự, wildlife tất cả cùng một lúc… hoặc thậm chí không bao giờ. Nhưng một khi bạn tìm được thể loại bạn thích, chọn nó làm điểm nhấn mạnh của bạn.
Thực tập, thực tập, thực tập!
Lời khuyên cuối cùng cũng là quan trọng nhất.

Thực tập, thực tập và thực tập!
Những người giỏi trong nghề ai cũng phải thực tập. Vậy sao nhiếp ảnh phải khác? Nếu bạn muốn ngón tay “bấm cò” của bạn theo kịp đầu óc của mình, bạn cần phải huấn luyện nó từng chút một.
Một tin mừng - rằng giai đoạn mới bắt đầu là giai đoạn tiến bộ nhanh nhất trong môn nhiếp ảnh, nếu bạn làm theo những lời khuyên này! ☺

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2015

Cùng ôn lại về ISO trong nhiếp ảnh, các bạn nhé.

Những điều cần biết về độ nhạy sáng ISO trong nhiếp ảnh (Huy Thắng)
1. Độ nhạy sáng ISO là gì Thuật ngữ ISO được dùng khi nói về giá trị nhạy sáng trong nhiếp ảnh. Đây là từ viết tắt của cụm từ International Standards Organization (Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế), một tổ chức chuyên ban hành các thiết lập tiêu chuẩn trên bình diện quốc tế. Cơ quan này ấn định tiêu chuẩn cho tất cả mọi thứ, từ việc giám sát chất lượng không khí phải thực hiện như thế nào cho đến cách đo lường hàm lượng chất béo trong thực phẩm.

Trong ngành nhiếp ảnh phim, việc sử dụng từ tắt ISO có nghĩa là loại phim được sử dụng có giá trị nhạy sáng phải hợp với giá trị theo chuẩn ISO. Thí dụ, loại phim rất nhạy sáng có giá trị ISO 1.600 hay 3.200 cần ít ánh sáng hơn để tạo ra hình ảnh so với phim có độ nhạy sáng thấp ISO 100 hay 50. Mỗi cuộn phim chỉ có một giá trị ISO cố định duy nhất. Còn đối với máy ảnh kỹ thuật số, tùy mức độ cao cấp của máy mà dải ISO có thể cao hay thấp. Các giá trị ISO ngày nay được dùng để mô tả thiết lập độ nhạy sáng trên máy ảnh kỹ thuật số.


Cũng giống như trường hợp điều chỉnh tốc độ màn trập hay khẩu độ trong khi chụp ảnh, việc điều chỉnh độ nhạy sáng một đơn vị phơi sáng (một stop) sẽ làm tăng gấp đôi hay giảm một nửa thời gian phơi sáng cần thiết để tạo hình ảnh. Điều này giúp chúng ta dễ hiểu hơn về mối quan hệ giữa tốc độ, khẩu độ và độ nhạy sáng. Nếu tốc độ chụp hay khẩu độ thay đổi một stop, độ nhạy sáng có thể thay đổi một stop theo chiều ngược lại để bù trừ. Có nghĩa là, ISO thấp thường được dùng trong điều kiện ánh sáng mạnh hoặc dùng để chụp phơi sáng, còn ISO cao dùng khi chụp thiếu sáng hoặc tốc độ cao.
2. Thiết lập gốc Một trong những lợi điểm tuyệt vời của nhiếp ảnh kỹ thuật số là độ nhạy sáng có thể thay đổi giữa các ảnh chụp khác nhau. Người chụp ảnh không bị ràng buộc phải quyết định chọn tốc độ phim ngay từ đầu và phải bám vào tốc độ này cho đến khi chụp hết 24 hay 36 “pô” ảnh giống như trong nhiếp ảnh phim.

Tuy nhiên, dù hầu hết các mẫu máy ảnh kỹ thuật số hiện đại ngày nay có nhiều thiết lập độ nhạy sáng thì thực tế là độ nhạy sáng của bộ cảm biến được ấn định chỉ bằng một giá trị gốc, thường là ISO 100 hay 200. Trong khi đó, các giá trị khác có thể đạt được bằng cách khuếch đại tín hiệu. Vấn đề là khuếch đại tín hiệu có thể làm ảnh bị nhiễu, là những đốm nhỏ thấy được trong ảnh có độ nhạy sáng cao.
3. Thiết lập có sẵn Các hãng sản xuất máy ảnh thường thiết kế sản phẩm của họ có một phạm vi độ nhạy sáng ISO chuẩn (hay còn gọi là dải ISO “cài đặt sẵn trong máy”), gồm các giá trị từ khoảng 100 hay 200 cho đến 6.400 hay đôi khi cao hơn.
Đây là những giá trị mà hãng cho là sẽ tạo được ảnh với chất lượng ưng ý. Ảnh tạo ra ở giá trị độ nhạy sáng cao hơn sẽ bị nhiễu hơn so với ảnh chụp với ISO thấp hơn, nhưng hãng sản xuất xem hiện tượng đó còn nằm trong giới hạn chấp nhận được và họ hài lòng khi các thiết lập này được sử dụng thường xuyên.

Nhiều hãng sản xuất cũng thiết kế máy ảnh DSLR có các thiết lập “mở rộng” độ nhạy sáng, với những giá trị ISO nằm ngoài phạm vi có sẵn trong máy. Khi các giá trị này được dùng thì ảnh sẽ không có cùng chất lượng như những ảnh được tạo ra trong phạm vi độ nhạy sáng có sẵn. Hãng sản xuất cung cấp các giá trị này chủ yếu để giúp chụp ảnh trong các trường hợp khác thường hơn.
4. Thiết lập mở rộng thấp Ảnh chụp với thiết lập mở rộng thấp như ISO 64 hay ISO 50 không bị mức độ nhiễu quá mức như trường hợp ảnh chụp với giá trị ISO rất cao, từ 51.200 hay cao hơn. Tuy nhiên, những ảnh này thường không sánh được với chất lượng của ảnh chụp với các giá trị độ nhạy sáng chuẩn như ISO 100 hay 200.
Mức độ chi tiết trong những ảnh này thường thấp hơn một chút so với ảnh chụp với thiết lập có sẵn thấp nhất và dải tần nhạy sáng (dynamic range) thường hơi bị hạn chế. Cho nên, bạn có thể thấy rằng vùng sáng dễ bị cháy và vùng tối dễ bị che hơn. Trừ khi cần dùng thiết lập nhạy sáng rất thấp để chụp ảnh rộng hay làm mờ chuyển động, trong hầu hết các trường hợp thì bạn nên dùng các thiết lập ISO có sẵn trong máy như đã đề cập trong phần trên để đạt chất lượng hình ảnh tốt nhất.
5. Nhiễu màu và nhiễu độ sáng Các kết cấu nhỏ tình cờ xuất hiện trong một bức ảnh có thể gọi là nhiễu trong ảnh kỹ thuật số hay các hạt li ti trên ảnh chụp bằng phim. Đối với loại phim nhựa, hạt li ti là kết quả của các phần tử hóa học không nhận đủ ánh sáng. Trong các bộ cảm biến hình ảnh kỹ thuật số, nhiễu là kết quả của các tín hiệu thừa tạo ra bởi hệ mạch kỹ thuật số của máy ảnh. Hiện tượng này xảy ra do lượng nhiệt vượt mức gây ra hay do khả năng xử lý của bộ cảm biến đối với tín hiệu rối loạn trong sóng không khí.

Khi tăng độ nhạy sáng, hiện tượng bị nhiễu ảnh càng thấy rõ nhất là trong các vùng tối hơn. Loại nhiễu ảnh này thấy rõ trong hai dạng: nhiễu màu (hay nhiễu sắc độ) và nhiễu độ sáng. Đó là những biến đổi về màu sắc và độ sáng của điểm ảnh. Nhiễu màu, biểu thị qua hiện tượng bị đốm màu, thường là hiện tượng khó chịu và khó giải quyết nhất vì nó trông không bình thường. Trong khi đó, nhiễu độ sáng thường ít thấy rõ hơn.
Trong nhiều trường hợp, không ai muốn xảy ra hiện tượng nhiễu trong ảnh màu. Tuy nhiên, đối với ảnh đen trắng, một số nhiếp ảnh gia cố tình tạo ra hiện tượng bị hạt nhằm thêm nét đặc sắc cho ảnh của họ chứ không phải là một lỗi tiêu cực.

6. Giảm nhiễu Hệ thống giảm nhiễu trong máy ảnh kỹ thuật số ngày càng tinh vi nhờ áp dụng các giải thuật phức tạp để phân tích hình ảnh, nhận dạng nhiễu và giảm thiểu ảnh hưởng của nhiễu. Tuy nhiên, khi xử lý nhiễu màu, kết quả có thể là độ bão hòa màu sẽ bị giảm toàn bộ. Đồng thời, việc giải quyết nhiễu độ chói có thể làm mờ các chi tiết ảnh.
Khi cố điều chỉnh hiện tượng mờ, một số mẫu máy ảnh áp dụng tính năng làm sắc cạnh ở mức độ khá cao. Trong vài trường hợp, phương pháp này đưa đến kết quả là một hiệu ứng màu nước thấy rất rõ khi xem ảnh ở độ phóng đại 100%. Điều đó có nghĩa là nét bên ngoài rất rõ xung quanh các thành phần hình ảnh có sắc độ đều đặn ở bên trong.
Nếu có thể, tốt nhất là bạn nên chụp ảnh với độ nhạy sáng cao theo định dạng RAW và JPEG cùng một lúc. Định dạng JPEG cho phép có thể xuất ảnh ngay sau khi chụp, trong khi tập tin RAW chứa tất cả dữ liệu để chỉnh sửa sau khi chụp. Định dạng RAW cho phép tìm được đúng cân bằng giữa độ nét chi tiết, độ giảm thiểu nhiễu và thường được các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp ưa dùng.

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

Làm chủ khả năng lấy nét khi chụp ảnh bằng iPhone

Theo PCWorld.com



(PCWorldVN) Hầu như lý do chính khiến ảnh chụp bằng iPhone không đẹp là vì người chụp không lấy nét đúng cách. Các vấn đề khác như độ phơi sáng và màu sắc có thể được chỉnh sửa sau khi chụp.

1. Chạm để lấy nét
Dù Apple quảng cáo rằng camera trong các mẫu điện thoại iPhone ngày nay đều rất thông minh, nhưng nói chung thiết bị này không thể lúc nào cũng nhận dạng được đâu là phần quan trọng nhất của cảnh chụp theo đúng ý người chụp. Tính năng tự động lấy nét (autofocus) của camera trên iPhone hoạt động khá tốt khi lấy nét khuôn mặt, nhưng khi không có khuôn mặt nào thì camera sẽ luôn tập trung lấy nét vào vị trí trung tâm khung hình.



Trong màn hình camera của iPhone, khung màu vàng cho thấy thiết bị đang tập trung lấy nét vào vùng nào của cảnh. Tính năng tự động lấy nét sẽ thiết lập điểm lấy nét vào vị trí giữa của khung hình.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp người dùng không muốn tập trung vào phần giữa của cảnh chụp mà lại muốn ảnh nét ở những vị trí khác. Nếu thật sự muốn chụp ảnh đẹp bằng iPhone thì trước hết bạn phải kiểm soát được những gì iPhone đang tập trung lấy nét và nói chung việc này rất dễ thực hiện.
Trong ứng dụng Camera trên iPhone, chỉ cần chạm vào màn hình ở vị trí mà bạn muốn lấy nét và iPhone sẽ làm những bước còn lại. Những gì gần hay xa tiêu điểm (là điểm được lấy nét) sẽ trông không rõ nét hay mờ hơn.
2. Chỉnh độ phơi sáng sau khi lấy nét
Ngoài độ nét, việc cân chỉnh độ sáng đúng cách khi chụp ảnh cũng cực kỳ quan trọng. Thuật ngữ độ phơi sáng (exposure) dùng để chỉ ảnh chụp sáng hay tối đến cỡ nào. Trên iPhone, độ phơi sáng của ảnh chụp có liên quan đến điểm lấy nét.




iPhone sẽ tự động thiết lập độ sáng tùy theo vị trí chạm để lấy nét. Nếu bạn chạm để lấy nét vào một vùng sáng của cảnh chụp, camera sẽ đảm bảo là vùng đó của cảnh được phơi sáng đúng mức. Tương tự, nếu chạm để lấy nét vào một vùng tối của cảnh, độ phơi sáng sẽ được ấn định cho vùng đó của ảnh.
Thỉnh thoảng phương pháp này có hiệu quả, nhưng trong vài trường hợp khác bạn có thể muốn lấy nét vào một phần của cảnh nhưng lại muốn phơi sáng phần khác. Với iOS 8, Apple đã giúp dễ dàng điều chỉnh độ phơi sáng sau khi đã lấy nét.
Sau khi chạm vào màn hình để ấn định tiêu điểm, chỉ cần lướt ngón tay lên hay xuống màn hình để điều chỉnh độ phơi sáng cho phù hợp. Khi lướt ngón tay, bạn sẽ thấy biểu tượng mặt trời màu vàng di chuyển lên hay xuống thanh trượt độ phơi sáng cạnh khung màu vàng lấy nét.
Khi điều chỉnh độ phơi sáng, hãy cố giữ sao cho không có phần nào của cảnh chụp bị hoàn toàn trắng hay hoàn toàn đen, nếu không camera sẽ không chụp được chi tiết nào cả trong những vùng này.
3. Nhấn giữ để khóa nét
Ngay cả khi đã chạm vào màn hình để thiết lập điểm lấy nét, nếu có gì thay đổi trong cảnh chụp thì camera có thể sẽ tự động điều chỉnh điểm lấy nét và độ phơi sáng. Chẳng hạn, nếu bạn đã định điểm lấy nét vào chủ thể trong cảnh chụp, sau đó có ai đó đi ngang qua thì camera có thể sẽ điều chỉnh lại điểm lấy nét và độ phơi sáng vào người đó.
Để đảm bảo điều này không xảy ra, bạn có thể khóa nét cho chủ thể bằng cách tắt hẳn tính năng tự động lấy nét. Khi đó, ngay cả khi phần còn lại của cảnh chụp có thay đổi thì chủ thể vẫn sẽ là điểm lấy nét.
Để đảm bảo điểm lấy nét đã được khóa, hãy nhấn giữ vài giây vào vùng màn hình trên chủ thể muốn lấy nét. Khi đó bạn sẽ thấy hiển thị dòng chữ AE/AF LOCK trong một khung màu vàng ở trên đầu màn hình. AE có nghĩa là tự động phơi sáng (Auto Exposure) và AF là tự động lấy nét (Auto Focus).
Dù độ phơi sáng đã được khóa khi nhấn giữ, bạn vẫn có thể lướt ngón tay lên hay xuống màn hình để điều chỉnh độ phơi sáng mà không làm thay đổi tiêu điểm. Một khi đã khóa nét, điểm lấy nét vẫn còn nằm trong vùng đó của cảnh chụp dù có điều gì xảy ra đi nữa.
4. Không di chuyển máy sau khi đã lấy nét
Sau khi đã chọn điểm lấy nét cho cảnh chụp, hãy nhớ là đừng thay đổi khoảng cách giữa máy và chủ thể. Điều này rất quan trọng vì quá trình lấy nét hoạt động bằng cách ấn định tiêu điểm theo khoảng cách từ camera.
Khi chạm vào màn hình iPhone để lấy nét tức là bạn đang bảo camera lấy nét vào chủ thể ở ngay hay gần khoảng cách đó từ ống kính của camera. Chúng ta gọi khoảng cách này là mặt phẳng tiêu cự (focal plane). Tất cả những vật nào nằm trước hay sau mặt phẳng tiêu này đều có thể không rõ nét. Do đó, nếu đã chạm để lấy nét và sau đó thay đổi khoảng cách giữa camera với chủ thể thì vật đó có thể không còn rõ nét nữa bởi vì nó không còn nằm ở tiêu điểm đã ấn định.
Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi tiêu điểm đã được ấn định rồi sau đó người chụp lùi lại một vài bước. Câu trả lời là tất cả hình ảnh giờ đây sẽ bị mờ đi. iPhone nhận được lệnh để lấy nét ở một khoảng cách nào đó từ camera và giờ đây khoảng cách đã bị thay đổi. Nhưng camera vẫn đang cố lấy nét ở khoảng cách đã được ấn định trước đó.
Điều quan trọng là phải đảm bảo không thay đổi khoảng cách giữa camera với chủ thể một khi đã chạm để lấy nét. Nếu phải đến gần chủ thể hay lùi xa hơn, hãy nhớ chạm một lần nữa để ấn định tiêu điểm trước khi nhấn nút chụp (shutter button).
Đừng quên là ngay cả khi bạn đứng yên thì chủ thể, chẳng hạn như một đứa bé năng động hay thú cưng, cũng có thể đang di chuyển và khoảng cách điểm lấy nét có thể không còn áp dụng được nếu chủ thể này tiến gần hay xa camera hơn. Nếu điều này xảy ra, chỉ cần chạm lên màn hình một lần nữa để định lại tiêu điểm.
5. Tránh những chủ thể quá gần
Thiết kế của camera iPhone không cho phép lấy nét những chủ thể được chụp rất gần. Camera trên các model iPhone 5s, 6 và 6 Plus không thể điều chỉnh điểm lấy nét nhỏ hơn khoảng 7cm. Cần phải cẩn thận không nên tiến quá gần đến chủ thể, nếu không sẽ chỉ chụp được những ảnh rất mờ.
Dù có cố chạm để lấy nét nhiều lần thì cũng không thể chụp rõ nét vì camera không thể lấy nét ở một khoảng cách quá gần như thế. Khi đó, bằng cách đưa điện thoại về phía sau một chút thì chủ thể mới rõ nét được. Hãy nhớ là mỗi khi thay đổi khoảng cách giữa điện thoại và chủ thể, hãy luôn chạm lại để định tiêu điểm.
Đôi khi bạn có thể thấy chán nản khi chụp cận cảnh những đóa hoa vì không thể đến đủ gần để tránh phần hậu cảnh gây khó chịu trong ảnh. Tuy nhiên, hãy nhớ là luôn có thể cắt bỏ phần cạnh của bức ảnh nếu cần. Ảnh sẽ bị mất đi một số điểm ảnh trong khi cắt bỏ, nhưng nếu không định in ảnh này ở cỡ lớn thì ảnh vẫn sẽ còn đẹp nếu bạn không cắt bỏ quá nhiều. Tốt hơn là nên chụp chủ thể rõ nét và sau đó cắt bỏ đi phần cạnh của ảnh, thay vì chụp quá gần để kết quả là toàn bộ ảnh bị mờ.
6. Dùng ống kính macro để chụp cận cảnh
Đôi khi, nhất là khi chụp macro cận cảnh, bạn cần chụp chủ thể có khoảng cách gần hơn mức iPhone cho phép. Khi đó, cần phải gắn thêm một ống kính macro phụ kiện của hãng thứ ba vào iPhone. Các loại ống kính macro cho phép đặt ống kính cực gần với chủ thể và có thể chụp những chi tiết mà mắt thường không nhìn thấy được.




Dùng ống kính macro chuyên dùng thường bị tác dụng phụ là độ sâu trường ảnh sẽ rất mỏng, theo đó chỉ một phần nhỏ của hình ảnh được lấy nét. Do đó, quan trọng là phải lấy nét chính xác.
Bạn có thể sẽ phải chụp nhiều ảnh, chạm vào nhiều vùng khác nhau của cảnh, trước khi có được bức ảnh được lấy nét theo đúng ý muốn. Quan trọng là không được thay đổi khoảng cách giữa ống kính với chủ thể vì nếu có một thay đổi nhỏ nhất thì sẽ không lấy nét được phần muốn chụp.
Có nhiều hãng sản xuất ống kính macro cho iPhone, nhưng nói chung chất lượng ống kính khá khác nhau. Do đó, tốt nhất là nên đọc các bài đánh giá và tham khảo bạn bè trước khi quyết định mua.
7. Chỉnh độ sâu trường ảnh mỏng
Độ sâu trường ảnh (depth of field) là một thuật ngữ mô tả mức độ rõ nét của cảnh chụp từ trước đến sau. Một ảnh có độ sâu trường ảnh dày sẽ có tất cả hay hầu hết các phần trong cảnh chụp đều rõ nét, từ các vật gần đến các vật xa.
Độ sâu trường ảnh gọi là mỏng khi chỉ một phần nhỏ của ảnh được rõ nét, còn những gì sau hay trước phần đó của ảnh bị mờ. Chỉnh độ sâu trường ảnh mỏng là một cách khá hay để làm mờ những phần không quan trọng của cảnh, chẳng hạn như những phần hậu cảnh gây khó chịu, trong khi vẫn giữ cho chủ thể chính được rõ nét. Điều này sẽ giúp nhấn mạnh thêm cho chủ thể chính, khiến nó trở thành quan trọng hơn trong bố cục của bức ảnh.
Với camera DSLR, chúng ta có thể điều chỉnh độ sâu trường ảnh bằng cách kiểm soát khẩu độ của camera (đó là lỗ trong ống kính mà ánh sáng đi qua). Tuy nhiên, camera trên iPhone lại có khẩu độ cố định làm hạn chế tùy chọn kiểm soát độ sâu trường ảnh.
Dù vậy, điều này không có nghĩa là không thể chỉnh độ sâu trường ảnh mỏng với iPhone. Bạn có thể thay đổi độ sâu trường ảnh ở một mức độ nào đó với một mẹo có thể áp dụng với tất cả các loại camera.
Theo kinh nghiệm, chủ thể càng xa ống kính camera iPhone, độ sâu trường ảnh càng dày và nhiều chi tiết của cảnh sẽ rõ nét. Ngược lại, chủ thể càng gần thì độ sâu trường ảnh càng mỏng.
Để ảnh chụp bằng iPhone có độ sâu trường ảnh mỏng, hãy để chủ thể càng gần iPhone càng tốt và để chủ thể chiếm lấy hầu hết khung hình. Nhớ đừng để gần quá nếu không sẽ không thể lấy nét được. Sau đó, hãy chạm để lấy nét vào chủ thể chính. Nếu dùng tính năng tự động lấy nét, kết quả có thể là phần hậu cảnh rõ nét trong khi chủ thể lại bị mờ.
Một điều khác phải nhớ ở đây là khoảng cách giữa chủ thể và phần hậu cảnh cũng ảnh hưởng đến độ sâu trường ảnh. Hậu cảnh càng xa chủ thể thì nó sẽ càng bị mờ hơn. Tóm lại, camera càng gần chủ thể và phần hậu cảnh càng xa chủ thể thì độ sâu trường ảnh sẽ càng mỏng.
8. Chỉnh độ sâu trường ảnh dày
Như đã đề cập ở trên, chủ thể càng xa camera thì độ sâu trường ảnh càng dày và nhiều phần của cảnh sẽ được rõ nét. Trong khi độ sâu trường ảnh mỏng thường cho ảnh trông tuyệt vời hơn nhờ phần hậu cảnh bị làm mờ, nhưng đây không phải luôn là điều mong muốn. Trong nhiều trường hợp, nhất là khi chụp phong cảnh, bạn sẽ muốn càng nhiều phần của cảnh được rõ nét càng tốt.
Bằng cách không chụp quá gần, ảnh có thể đạt mức độ sâu trường ảnh dày. Dù tiêu điểm trong các ảnh với độ sâu trường ảnh dày không quan trọng như hình ảnh với độ sâu trường ảnh mỏng, bạn vẫn nên chạm để lấy nét phần quan trọng nhất của cảnh. Nó có thể dễ dàng thấy rõ ràng, nhưng một số phần của hình ảnh có thể hơi rõ nét hơn các phần khác trong loại ảnh chụp này.
9. Tránh làm rung máy
Trong điều kiện ánh sáng thấp, iPhone phải dùng tốc độ chậm hơn để có thể bắt đủ ánh sáng khi chụp ảnh. Không may là bạn thường làm camera bị rung khi phải cầm máy lâu hơn và kết quả thường là hình ảnh sẽ bị mờ hoàn toàn.






Để giảm thiểu nguy cơ camera bị rung, nên cố gắng giữ cho máy được vững vàng. Giải pháp cơ bản là dùng chân máy phụ kiện để giữ camera hoàn toàn ổn định khi chụp. Giải pháp thứ hai là cầm iPhone tựa vào một nơi chắc chắn chẳng hạn như tường, cột đèn, khung cửa, thân cây, mặt bàn, nóc xe ôtô, hàng rào hay thậm chí sàn nhà. Hãy dùng bất cứ công cụ nào có được để giữ ổn định cho iPhone khi chụp.
Nếu thực sự không có gì để đỡ điện thoại thì hãy cố thở chậm lại nhằm tránh thân hình không bị cử động nhiều khi bấm nút chụp. Tìm thế đứng hay ngồi nào giúp cầm iPhone ổn định hơn. Thử quỳ gối trên đất hay cầm iPhone gần thân hơn là cầm với tay duỗi thẳng.
Sau cùng, nếu có thể tạo thêm ánh sáng, dù nhân tạo hay tự nhiên, thì iPhone có thể dùng tốc độ chụp nhanh hơn giúp giảm thiểu nguy cơ hình ảnh bị mờ. Bằng cách dùng một loại phụ kiện đèn LED nhỏ để chiếu sáng chủ thể khi chụp ảnh chân dung trong điều kiện sánh sáng thấp, bạn có thể có được một ảnh rõ nét bằng iPhone.
10. Dùng chế độ lấy nét thủ công
Đôi khi, dù có cố gắng đến đâu đi chăng nữa, bạn cũng không thể bắt camera lấy nét đúng điểm mình muốn. Ứng dụng Camera+ là một trong số các ứng dụng iPhone có chất lượng giúp bạn kiểm soát thủ công hoàn toàn việc chụp ảnh bằng iPhone, trong đó có cả tính năng lấy nét thủ công.
Mặc định, Camera+ dùng tính năng lấy nét tự động nhưng có thể vô hiệu hóa tính năng này bằng cách chạm vào biểu tượng lấy nét hình vuông trong thanh màu xám nhạt ở đáy trái của màn hình.



Hãy trượt ngón tay qua trái hay phải trên thanh trượt khoảng cách tiêu cự nằm ngang trên nút chụp. Biểu tượng lấy nét hình vuông sẽ chuyển thành chữ M màu tím (M là từ tắt cho “lấy nét tự động” Manual Focus). Trượt ngón tay về bên trái để lấy nét xa hơn (một biểu tượng phong cảnh sẽ hiển thị ở đầu thanh trượt) hay trượt về bên phải để lấy nét cận cảnh (một biểu tượng bông hoa sẽ hiển thị).
Khi dùng thanh trượt này, hãy chú ý màn hình đang cho thấy gì. Khi cho rằng đúng phần nào của cảnh đã rõ nét, chỉ cần nhấn nút chụp để chụp ảnh. Để chuyển về chế độ lấy nét tự động, hãy nhấn nút Auto ở phía trái của thanh trượt tiêu cự.
Hy vọng là những hướng dẫn trên sẽ giúp bạn có thêm những bức ảnh rõ nét và sau cùng sẽ giúp bạn trở thành một “nhiếp ảnh gia iPhone” tốt hơn.
PC World VN, 09/2015

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

5 điều ước gì tôi biết được...

Một bài viết khác của tác giả Andy Nguyen trên báo Trẻ, link ở đây:

http://baotreonline.com/Chuyen-muc-tre/Goc-nhiep-anh/5-dieu-uoc-gi-toi-biet-duoc.html


Khi bạn mới bắt đầu với thú vui chụp hình, bạn sẽ đo lường sự tiến bộ bằng những thay đổi trong những “tác phẩm” đầu tay của mình. Một vài kinh nghiệm chụp hình tôi có thể chia sẻ cùng bạn yêu thích nhiếp ảnh.

1. Cái nhìn của bạn thay đổi

Khi bạn đã bắt đầu thật sự “dzô” nhiếp ảnh, có lẽ bạn sẽ không còn nhìn thế giới quanh bạn như trước nữa. Vì những gì dù đã trở nên quen thuộc với bạn trước đây, giờ bỗng…khác!


Góc cạnh của chiếc cầu “màu trắng” Margaret Hunt Hill Bridge ở Dallas. Và để chụp được bức ảnh này, những tay máy cũng đã phải “long rong” hàng giờ ở khu downtown vào giờ đêm.Góc cạnh của chiếc cầu “màu trắng” Margaret Hunt Hill Bridge ở Dallas. Và để chụp được bức ảnh này, những tay máy cũng đã phải “long rong” hàng giờ ở khu downtown vào giờ đêm.

Một vài học viên của tôi nói rằng họ đã đi ngang cây cầu “màu trắng” nhiều lần mà họ chưa bao giờ để ý góc cạnh đẹp của nó, cho đến khi lấy một khóa học Nhiếp Ảnh. Nếu thói quen quan sát cảnh vật của bạn cũng “khó tính” như của tôi, đột nhiên bạn sẽ trở thành một học viên cho mỗi bức ảnh hoặc đoạn phim bạn xem. Tôi thì càng khó xem một cuốn phim mà không phân tích phần cinematography của cách dàn dựng từng cú shot.

Một khi bạn bắt đầu theo đuổi những hình ảnh cực đẹp, lối sống của bạn rất có thể sẽ thay đổi. Thức dậy sớm, và về trễ để tìm ánh sáng đặc biệt (để chụp). Thói quen tốt này trở thành một sinh hoạt thường xuyên trong đời bạn.

2. Một thú tiêu khiển tốn tiền

Môn chơi này có thể rất tốn kém, nhất là khi bạn quyết định mua một máy DSLR, rồi sau đó bạn mua từng ống kính cho đủ bộ “com-plê”. Và ống kính thường mắc tiền hơn máy ảnh.

Có hai cách để giới hạn sự tốn kém này. Trước tiên, bạn phải có khái niệm rằng không nhất thiết có mối liên quan giữa sự thành công của bạn và đồ nghề bạn dùng. Đừng lệ thuộc vào một món dụng cụ sẽ giải quyết mọi vấn đề nhiếp ảnh của bạn. Thứ nhì, giảm chi phí của bạn bằng cách mua đồ nghề xài rồi. Bí quyết là bạn phải biết rõ nguồn gốc của món đồ bạn mua.




3. Dành thời giờ để đi chụp

Nghe có vẻ đơn giản, nhưng đôi khi bạn sẽ “quên mất tiệt” rằng cách duy nhất để thật sự tiến bộ là cầm máy ảnh trong tay mình mỗi ngày, liên tục chụp hình. Những tay chuyên nghiệp chụp hình, cũng cần phải luôn trau dồi kỹ thuật để tiến bộ.




4. Học cho rành về máy của bạn

Cũng như nếu bạn muốn giỏi về nghề sửa xe, bạn cần phải biết dùng rành những món đồ nghề của nó. Bạn không nên phải để tâm đến chuyện bấm những nút khác nhau hoặc những chọn lựa về kỹ thuật. Khi bạn đã thật sự học tất cả đặc điểm của máy ảnh, những nút điều khiển, và những setting trong menu, máy ảnh của bạn sẽ trở thành phần nối thêm của mắt bạn.

5. Chuyển qua Manual

Ngày nào bạn bắt đầu thật sự điều khiển exposure (sự phơi sáng) của bạn, ngày đó bạn sẽ “trưởng thành” từ một người bấm nút thành một “nghệ sĩ ảnh”. Điều này, chẳng phải luôn luôn dễ làm - nó đòi hỏi phải học và thực hành rất nhiều về metering, exposure, focus và nhiều thứ khác. Mặc dù có một số người có thể tìm cách tự học, nhưng những “mày mò” này đôi khi làm bạn nản lòng; một trong những cách chắc chắn và đỡ mất thời gian nhất là đến tham dự những Lớp Nhiếp Ảnh nếu bạn có điều kiện theo đuổi.

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2015

Thêm ít kiến thức cho bạn, cho tui về nhiếp ảnh thôi...

Note ni được trích gọn từ hai bài viết của tác giả An Nguyen trên báo Trẻ Online.


1/ Xài thử ống kính Sigma (kỳ 147)

Cho đến nay đã có rất nhiều người tỏ ý rằng họ rất mê thích môn chụp hoang dã (chim chóc) nhưng điều cản trở họ nhất là sự thiếu “đồ nghề”. Nói là đồ nghề nhưng thật sự hầu hết họ đã làm chủ một máy ảnh DSLR rồi, họ chỉ thiếu một ống kính lớn chuyên dùng để chụp xa (supertele). Nhưng điều khó khăn để làm sở hữu một loại ống kính như vậy là sức nặng của nó - trong cả hai ý nghĩa. Nặng về trọng lượng và cũng nặng về giá tiền. Những ống kính này được bán từ $5,500 tới $18,000 tùy theo tiêu cự và khẩu độ tối đa. Trọng lượng của chúng cũng khá nặng, thường thì khoảng 10 lbs. nhưng ít nhất cũng 5 lbs.



Tác giả đang “săn ảnh” với ống kính Sigma 150-600mm.Tác giả đang “săn ảnh” với ống kính Sigma 150-600mm.

Vào tháng Chín năm vừa qua, công ty Sigma đã thông báo ra hàng cho loại ống kính supertele zoom 150-600mm của họ, bao gồm hai hạng - ‘Sports’ và ‘Contemporary’. Sigma đã từng sản xuất những supertele zoom từ nhiều thập niên, nhưng không một ai trong nghề có thể xem nó là “địch thủ đáng kể”. Vì sự cồng kềnh, chậm, và có phẩm chất ảnh rất thấp. Nhưng kể từ năm 2013, hãng Sigma đã có một hướng đi mới với những sản phẩm của họ: tất cả những ống kính mới do họ sản xuất sẽ được sắp theo một trong ba hạng: ‘Sports’, ‘Art’, và ‘Contemporary’. Đời ống kính này là một tiến bộ vượt bực hơn những đời từ trước, và trong vài trường hợp còn cạnh tranh với hoặc qua khỏi phẩm chất của ống kính tương đương của hai hiệu “đại gia” - Nikon và Canon.

Dù hai món hàng mới của Sigma đã được thông báo đã lâu, mãi tới Tháng Hai năm 2015, hạng ‘Sports’ của ống kính này mới bắt đầu có trong tồn kho để bán cho khách hàng. Trong khi các tay nhiếp ảnh đang mơ ước cầm trong tay hạng ‘Contemporary’ phải đợi thêm ba tháng nữa - tới cuối Tháng Năm Sigma mới bắt đầu bán.

Hình chân dung chim chụp bằng ống kính Sigma 150-600mm. Lưu ý background tuyệt mờ, làm chủ thể nổi hẳn.Hình chân dung chim chụp bằng ống kính Sigma 150-600mm. Lưu ý background tuyệt mờ, làm chủ thể nổi hẳn.

Tôi đã từng tránh mua ống kính supertele hạng nặng của Sigma từ khi có kinh nghiệm không tốt với hàng Sigma nhiều năm về trước. Nhưng sau những thay đổi khả quan trong hàng ngũ ống kính của Sigma hai năm qua, tôi đã bắt đầu để ý và theo dõi xem họ có gì mới lạ và những lời đồn có thật hay không. Lần này tôi đã quyết định thử ống kính 150-600mm ‘Contemporary’ - một “ứng cử viên” cho những người đã từng mơ ước có cơ hội chụp thể loại ảnh thú hoang dã (chim chóc) nhưng chưa dám bỏ tiền mua. Vài ngày trước, Sigma đã gởi về cho tôi một ống kính mới tinh.

Lần đầu tiên tôi mở thùng và đem ống kính Sigma 150-600mm “Contemporary” ra “xài thử”, nhấc ống kính lên, tôi có cảm giác như nó nặng cỡ 70-200mm f/2.8 hoặc nặng hơn tí và dài hơn. Thật đáng mừng, so với trọng lượng của những ống kính Nikon 500mm, 600mm, và 800mm thì ống kính Sigma supertele có cảm giác như nhẹ như lông vịt; cầm trên tay cả ngày mà không mệt.

Phần quan trọng nhất tôi muốn thử là phần lấy nét tự động (autofocus hoặc AF). Lúc đầu ống kính có vẻ lười biếng, chạy tới chạy lui tìm nét hơi lâu. Nhưng sau khi chỉnh vài công tắc trên ống kính và trên máy, tôi đã “dợt” cho nó chạy ào ào như những anh chàng lính con.

Ống kính lấy nét đủ nhanh để chụp chim bay (Vịt Gỗ) trong bóng (gần) tối.Ống kính lấy nét đủ nhanh để chụp chim bay (Vịt Gỗ) trong bóng (gần) tối.

Trái lại với những lời đồn và “kiến thức chung” từ trước, ống kính này vẫn chụp ra hình rõ ở những tiêu cự tối đa, như 500mm tới 600mm. Bạn có thể khóa ống kính ở những tiêu cự 150mm, 180mm, 200mm, 250mm, 300mm, 400mm, 500mm, và 600mm để ống kính khỏi bị “tuột” khi bạn đang mang trên vai để đi bộ.

Về hệ thống chống rung, tôi đã thử những setting khác nhau nhưng cuối cùng vẫn thấy tốt hơn khi tắt nó hoàn toàn “OFF”.

Để đánh giá tổng quát, tôi thích chiếc Sigma ở những điểm: nhẹ cân, rẻ tiền, tương đối gọn, phẩm chất khá tốt; ngược lại, tôi không thích nó ở những điểm: hướng xoay để zoom ngược chiều với những ống kính hiệu Nikon - khó làm quen, vòng cổ để gắn tripod làm cản trở tay cầm và không cân đối, đôi khi chậm trong hoàn cảnh thiếu ánh sáng.

Nói chung, nếu bạn là một tay ảnh mới bước đầu vào thể loại chụp thú hoang dã, ống kính này thật sự quá tốt cho bạn.

2/Hoang đường về số MP (Kỳ 145)



Tin đồn rằng Canon đang chế tạo một máy DSLR với số megapixel cực cao, một nguồn đáng tin cậy đã cho rằng Canon không những có một máy pro DSLR đang sản xuất với một sensor lớn cỡ 75 MP, mà họ đã đem chụp thử ở ngoài rồi. Mặc dù Canon không bình luận về tin đồn, nhưng khả năng tạo ra những sensors có độ phân giải cực cao không phải là điều bí mật. Nếu trên đời có một máy ảnh như vậy, những tay chụp ảnh sẽ có một lựa chọn mới để tạo ảnh với độ phân giải càng cao với một máy ảnh cùng kích thước với những máy DSLR ngày nay.

Nguồn tin và những lời đồn rốt cuộc đã nói đúng! Canon đã cho ra máy 5D MkIII với độ phân giải cao trên thị trường hiện tại, nhưng điều này có thể cũng sẽ khơi diễn một “cuộc đua megapixel” giữa các hãng làm máy ảnh? Và, thật sự chúng ta có cần nhiều megapixels như vậy không? Vấn đề của megapixels là nó có một lịch sử rắc rối, nhưng một cuộc đua megapixel mới thì chưa chắc sẽ diễn ra. Đây là tại sao.
Cuộc đua đã sinh ra chuyện hoang đường

Nếu bạn còn nhớ cuộc đua megapixel khi máy ảnh digital mới ra đời? Và nếu bạn đã từng mua máy ảnh digital từ thời 1998, chắc hẳn bạn sẽ nhớ. Megapixels trong máy ảnh thì quan trọng, nhưng nó cũng đã trở thành một trong những sự mơ hồ lớn nhất trong kỹ thuật nhiếp ảnh số.
Trong một thời gian, kéo dài gần hết thập niên rồi, các công ty máy ảnh đã ráng “phỗng tay trên” nhau bằng cách tăng độ phân giải năm này qua năm nọ. Một máy ảnh 1.3 MP thuộc hạng “xịn” trong năm 2001 sẽ bị “cho ra cửa” vài tháng sau bởi một máy 2 MP, và v.v... Bởi vì các công ty máy ảnh quảng cáo món hàng của họ khá “nhiệt tình” với sự nhấn mạnh rằng “bạn có càng nhiều megapixels thì càng tốt,” hậu quả đáng tiếc là đến ngày nay, đó là cách người tiêu thụ đã được "huấn luyện” để đánh giá và mua máy ảnh.

Chọn một máy ảnh mà chỉ dựa vào độ phân giải có thể là một điều mơ muội. Độ phân giải càng cao, độ chi tiết được ghi lại trong ảnh cũng càng cao, khi tất cả những yếu tố khác không thay đổi. Tuy nhiên, số lượng megapixel chỉ là một trong nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng tới phẩm chất ảnh. Nhiều người chủ máy ảnh đang bắt đầu nhận thức rằng chỉ một mình megapixels không xác định phẩm chất tổng quát của máy ảnh, nhưng cũng vẫn còn nhiều người chưa biết chuyện này, đơn giản là vì ý tưởng về “phải có số megapixels cao” khó thể xóa bỏ

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

Kỹ thuật chụp ảnh phong cảnh đẹp không thể bỏ qua

Nguồn bài viết:
http://dohoafx.com/2015/05/ky-thuat-chup-anh-phong-canh-dep-khong-the-bo-qua/


Nét đẹp của phong cảnh không cố định mà luôn có sự thay đổi, theo mùa, theo thời gian. Để tránh lưu lại những hình ảnh phong cảnh nhạt nhẽo, đánh mất cái hồn của sự vật và chủ thể, hãy thử thực hiện theo những lời khuyên dưới đây từ trang Exposure Guide. Đó rất có thể là những kỹ thuật chụp ảnh phong cảnh đẹp mà bạn đang cần.

Tạo chiều sâu cho bức ảnh

Khi bạn chụp một bức ảnh phong cảnh, hãy thử tạo cảm giác về chiều sâu cho bức ảnh đó bằng cách lấy nét nhiều yếu tố khác nhau trong hình ảnh. Để làm điều này bạn cần phải sử dụng một khẩu độ nhỏ, từ f/16 – f/22 bởi vì khẩu độ càng nhỏ thì độ sâu trường ảnh sẽ càng lớn.
Kỹ thuật chụp ảnh phong cảnh đẹp không thể bỏ qua
Bạn nên đặt máy ảnh trên một chân máy để tránh máy bị rung khi chụp và cũng cần lưu ý rằng, khi sử dụng khẩu độ nhỏ hơn có nghĩa ánh sáng sẽ ít hơn khi đi vào thấu kính do đó bạn cần bù sáng cho ảnh bằng cách tăng giá trị ISO hoặc kéo dài tốc độ màn trập, hoặc cả hai.

Sử dụng ống kính góc rộng

ky_thuat_chup_anh_phong_canh_dep_khong_the_bo_qua_2-550Ống kính góc rộng khá được ưa chuộng khi sử dụng chụp ảnh phong cảnh, giúp có được góc nhìn rộng hơn mang lại cảm giác không gian được rộng mở. Chúng cũng vẫn giúp mang đến chiều sâu cho hình ảnh và cho phép bạn sử dụng tốc độ màn trập nhanh hơn vì có nhiều ánh sáng hơn. Chụp ảnh ở khẩu độ f / 16 sẽ làm cho cả chủ thể phía trước và nền phía sau được sắc nét. Hãy nhớ và thử áp dụng để thấy những góc độ thú vị của những bức ảnh.

Sử dụng bộ lọc (Filter)

ky_thuat_chup_anh_phong_canh_dep_khong_the_bo_qua_3-550
Để có được những bức ảnh phong cảnh tuyệt vời nhất, bạn có thể sử dụng hai filter. Bộ lọc phân cực giúp mang lại bầu trời xanh sâu hơn và tương phản với màu trắng của những đám mây. Bộ lọc cường độ trung bình ND (Neutral Density Filter) giúp giảm lượng ánh sáng đi vào ống kính của máy ảnh nhưng không làm thay đổi cân bằng màu sắc. Điều này rất hữu ích vào những ngày trời sáng, khi máy ảnh không thể điều chỉnh tốc độ màn trập chậm (khi bạn muốn chụp sự chuyển động của bầu trời hoặc nước chẳng hạn).

Chụp chuyển động

ky_thuat_chup_anh_phong_canh_dep_khong_the_bo_qua_4-550
Nếu bạn đang muốn chụp một dòng nước đang chảy, bạn có thể tạo hiệu ứng nước trắng tuyệt đẹp bằng cách đặt độ phơi sáng dài. Có hai cách để làm điều đó bạn có thể áp dụng. Một là sử dụng chế độ Tv hoặc S, chọn độ phơi sáng là 2 giây hoặc lâu hơn. Hoặc bạn cũng có thể sử dụng chế độ AV (Aperture-Priority) và chọn một khẩu độ nhỏ như f / 32 (đòi hỏi nhiều ánh sáng hơn). Nếu bạn chụp với ánh sáng ban ngày, bạn phải sử dụng một bộ lọc ND để giảm lượng ánh sáng va vào máy ảnh, và bằng cách này, máy ảnh sẽ có thời gian màn trập lâu hơn. Một Tripod trong trường hợp này cũng rất cần thiết để đảm bảo độ sắc nét cho ảnh chụp.

Sử dụng mặt nước như một tấm gương lớn

Nước trong ánh sáng dịu có thể tạo ra các hiệu ứng phản chiếu rất đẹp. Bạn nên áp dụng loại ảnh này vào trong hai “giờ vàng” đó là thời điểm giờ đầu tiên sau khi mặt trởi mọc và giờ cuối cùng trước lúc mặt trời lặn.
ky_thuat_chup_anh_phong_canh_dep_khong_the_bo_qua_5-550
Bạn nên đặt máy ảnh trên một tripod và thiết lập chế độ TV hoặc S (Shutter-Priority). Chọn tốc độ màn trập chậm, máy sẽ đặt khẩu độ phù hợp. Nếu bạn muốn có được hình ảnh sắc nét, bạn có thể đẩy ISO lên mặc dù ISO 125 là một mức khá tốt.

Đừng quên yếu tố con người

ky_thuat_chup_anh_phong_canh_dep_khong_the_bo_qua_6-550
Một bức ảnh phong cảnh không có nghĩa chỉ bao gồm cảnh và những vật vô tri vô giác, bạn đừng quên yếu tố con người có thể giúp mang lại một bức ảnh hoàn mỹ.
Sự xuất hiện của một đứa trẻ dễ thương hoặc một cô gái xinh đẹp bên những bông hoa. Bạn có thể áp dụng quy tắc 1/3 và sắp xếp bố cục đặt con người lệch tâm để tạo được hiệu quả tốt nhất. Chọn một tốc độ màn trập nhanh, nếu bạn muốn “đóng băng” hình hoặc một tốc độ màn trập chậm hơn nếu bạn muốn chụp sự chuyển động.

Sử dụng quy tắc một phần ba

Van.vn đã từng giới thiệu bài viết tổng hợp các quy tắc bố cục trong nhiếp ảnh trong đó có nhắc đến quy tắc một phần ba. Theo đó quy tắc này mách bạn hãy tưởng tượng ra bốn đường kẻ, hai đường theo chiều ngang và hai đường theo chiều dọc để tạo ra chín ô trên hình ảnh.
ky_thuat_chup_anh_phong_canh_dep_khong_the_bo_qua_7-550
Trong một vài trường hợp, việc đặt chủ thể chính ở vị trí trung tâm có thể giúp mang lại hiệu quả tốt, tuy nhiên bạn có thể thử sử dụng quy tắc 1/3 với việc đặt chủ thể lệch tâm tại những điểm giao cắt của các đường thẳng (còn được gọi là “Điểm mạnh”) sẽ giúp tạo được một bố cục hài hòa và dễ chịu với góc nhìn.
ky_thuat_chup_anh_phong_canh_dep_khong_the_bo_qua_8-550

Các cài đặt bạn nên áp dụng

Khi chụp ban ngày bạn có thể sử dụng một khẩu độ nhỏ hơn f / 22 để chụp hình ảnh được chi tiết và cực kì sắc nét. Nếu bạn muốn bắt chuyển động của nước hoặc của con người hay các con vật, hãy dùng filter để giảm lượng ánh sáng đi vào và thử nghiệm với tốc độ màn trập. Với dòng nước chảy bạn chọn phơi sáng ít nhất 2 giây, còn chụp sự chuyển động của con người hay động vật hãy bắt đầu với tốc độ màn 1/60. Bạn nên luôn sử dụng chân máy cho việc chụp phong cảnh.

Thiết bị nên dùng

Khi chụp dưới ánh nắng bạn nên dùng một nắp đậy ống kính để tránh bị cháy sáng. Ngoài ra, bạn có thể sử dụng một bộ lọc cường độ trung bình ND hoặc bộ lọc phân cực để giảm sự phản xạ và làm nổi bật bầu trời.
Như đã đề cập ở phần trên, một chân máy là thiết bị cần thiết nếu bạn muốn chụp những bức hình sắc nét hay chụp chuyển động. Việc sử dụng đèn flash sẽ giúp các vùng tối được sáng hơn khi chụp phạm vi gần.
Với nhiều người, chụp phong cảnh đã trở thành niềm đam mê không thể từ bỏ. Với loại hình nhiếp ảnh này, bạn có thể dành cả ngày trời và đắm mình vào thiên nhiên. Bạn cũng cần rèn luyện tính kiên nhẫn bởi có khi phải đợi chờ rất lâu để có được điều kiện về ánh sáng và bố cục ưng ý và cũng không được nản lòng khi mọi thứ không được như mình mong muốn.
Nhiều bức ảnh chụp phong cảnh tuyệt đẹp đã được chủ nhân của nó dành nhiều thời gian và công sức mới có được và những bức hình đó xứng đáng với những gì bỏ ra. Hy vọng những kỹ thuật chụp ảnh phong cảnh đẹp vừa giới thiệu trên đây cùng sự kiên nhẫn thực hành sẽ giúp bạn phát triển các kỹ năng và tạo ra được những bức ảnh ấn tượng của riêng mình.
Van.vn (Theo Exposure Guide)

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2015

10 Lỗi thông thường trong nhiếp ảnh

Nguồn:

http://baotreonline.com/Chuyen-muc-tre/Goc-nhiep-anh/10-li-thong-thng-trong-nhip-nh-k-133.html

Tác Giả
Andy Nguyễn



Tác Giả
Andy NguyễnTác Giả Andy Nguyễn

Bạn vừa mua chiếc máy chụp hình DSLR và hăng hái đem nó ra để thử. Có lẽ bạn đã đem nó ra ngoài chụp thử vài ngày hoặc vài tuần và bất thình lình bạn không còn hứng thú nữa. Vì sao?

Vì bạn dường như không tận dụng được tất cả những gì bạn muốn từ cái máy DSLR ngon lành. Bạn có thể đã bỏ ra biết bao nhiêu giờ để lên mạng hay “lặn lội” để tìm một máy DSLR tốt nhất mà có thể chụp những hình đẹp nhất bạn muốn. Và nếu bạn cảm thấy “bực bội” về điều này thì bạn hãy nhớ lấy câu này: “Bạn chỉ thất bại học hỏi nếu bạn không học hỏi từ thất bại.” – Stella Adler

Vậy hãy chuẩn bị học về 10 lỗi thông thường mà bạn có thể đã phạm và làm cách nào để tránh những lỗi đó.

1. Sai Cân Bằng Trắng

Lỗi đầu tiên là để sai Cân Bằng Trắng (White Balance). Chúng ta nhìn thấy trắng trong tất cả mọi môi trường ánh sáng, nhưng máy ảnh thì không. Bạn phải hướng dẫn máy ảnh để biết nguồn sáng của cảnh vật trước mắt bạn muốn chụp.

Ví dụ bạn đang chụp dưới ánh nắng mặt trời, và nếu bạn để Cân Bằng Trắng của máy ảnh ở Cloudy thì cảnh sẽ hoá thành màu cam. Ngược lại nếu bạn đang chụp trong lúc trời có mây và máy ảnh của bạn được để Cân Bằng Trắng ở vị trí Daylight thì cảnh vật sẽ bị phủ một màu xanh.

Cách giải quyết: Cũng may những máy ảnh số hiện đại nhất có khả năng chỉnh Cân Bằng Trắng tự động khá tốt, trong trường hợp này bạn có thể dùng setting Auto White Balance mặc dù cách này chỉ đúng 99 phần trăm. Còn lại 1% kia, bạn nên chụp trong dạng RAW, để có thể sửa lại White Balance trong giai đoạn post processing.



Không nên đặt chủ thể ngay giữa khung.Không nên đặt chủ thể ngay giữa khung.

2. Bị lố ánh sáng
Nên nhớ rằng tầm phân biệt ánh sáng của mắt con người rộng hơn của máy ảnh rất nhiều. Tầm phân biệt ánh sáng là tỷ lệ giữa độ sáng tối đa trên độ tối tối đa của một cảnh.

Bạn có thể nhìn thấy chi tiết trong cả hai vùng sáng nhất và vùng tối nhất, nhưng máy ảnh sẽ không thể ghi lại tất cả những chi tiết đó. Bạn là một người chụp ảnh, trách nhiệm của bạn là “điều chỉnh” ánh sáng thế nào để vừa mắt người xem hình. Mắt người thường bị nhạy với những điểm chói hơn những điểm tối. Những điểm bị lố ánh sáng trong tấm ảnh không được mắt người chấp nhận bằng những điểm đen.

Cách giải quyết: Chỉnh ánh sáng để những điểm đó không bị lố, trừ khi bạn đang cố ý làm điều đó. Gần như tất cả máy DSLR đều có đặc điểm báo hiệu chỗ lố ánh sáng bằng cách chớp tắt khi bạn xem lại hình trên màn ảnh máy. Nếu hình đó có những chấm chớp tắt, bạn sẽ cần chỉnh ánh sáng tối lại cho đúng.

3. Chủ thể nằm ở giữa

Một khuynh hướng cho những người mới bắt đầu chụp ảnh là để chủ thể ngay giữa khung ảnh, kết quả là tấm ảnh nhìn thấy chán, thiếu sinh động. Người xem hình không có gì khác để nhìn và mắt của họ đi thẳng tới chủ thể và bị kẹt cứng ở đó.

Cách giải quyết: Áp dụng Luật 1 phần ba và tránh để chủ thể của bạn ở giữa khung. Một chủ thể nằm một bên (khác điểm giữa) làm cho hình  sinh  động hơn và khoảng trống trong hình gây sự chú ý.

4. Lấy nét sai

Bất cần tấm ảnh của bạn tốt cỡ nào về mặt kỹ thuật, nếu focus không đủ sắc bén, thì tấm ảnh của bạn không đủ tiêu chuẩn. Chủ thể chính của ảnh cần phải rõ nét, nếu không người xem sẽ bị “lạc lối” và không tìm được một điểm để “nghỉ” con mắt. Chúng ta nhìn thấy vật thể rõ trong thực tế nên cũng muốn có thể cảm nhận được tấm ảnh.

Cách giải quyết: Xem lại ảnh của bạn sau khi chụp bằng cách zoom gần vào trên màn ảnh phía sau. Nếu chụp ảnh chân dung, thì focus vào con mắt của người mẫu (hoặc chim hay thú), vì người xem hình cần tiếp xúc ánh mắt.

5. Khoảng trống để… thở

Tôi thường thấy nhiều người cố gắng làm đầy khung ảnh với chủ thể ưa thích nhất của họ để nó nhìn thấy lớn trong khung hình. Nhưng có bao nhiêu lần bạn có cảm giác nó bị dồn nhét trong diện tích của khung ảnh? Nó nhìn có vẻ bị  “nghẹt thở” bởi vì trong đó không có khoảng trống để… cựa quậy, đừng nghĩ tới chuyện di động, trong đó không có chỗ để thở luôn! Đôi khi sẽ có khoảng trống giữa chủ thể và khung, nhưng ở ngược hướng - điều này cũng không tốt.




Một ảnh chân dung của chim Choi Choi Nhiếp, có áp dụng bố cục theo Luật 1/3 và chừa khoảng trống phía trước để chủ thể… thở. Photo: Andy NguyễnMột ảnh chân dung của chim Choi Choi Nhiếp, có áp dụng bố cục theo Luật 1/3 và chừa khoảng trống phía trước để chủ thể… thở. Photo: Andy Nguyễn

Cách giải quyết: Luật 1/3 là kỹ thuật bố cục tốt nhất để có thể giúp bạn chừa đủ khoảng trống xung quanh chủ thể. Tưởng tượng khung ảnh như một cái thùng kín không có lỗ thoát, bạn đâu muốn chủ thể ưa thích của bạn bị nghẹt thở phải không?

6. Hậu cảnh bừa bộn
Đây có thể là lỗi thông thường nhất trong tất cả lỗi. Tại sao? Là vì, rất thường xuyên, người chụp có xu hướng bấm nút chụp ảnh ngay khi họ thấy những gì đẹp mắt hoặc thú vị. Có lẽ, bạn bị “áp đảo” bởi chủ thể chính, và không hề để ý đến những gì xung quanh nó, nhất là sự chú ý về hậu cảnh. Một hậu cảnh bừa bộn hoặc hậu cảnh “rối” đóng vai trò chính trong việc làm hỏng ảnh.

Cách giải quyết: Quá trình chụp ảnh thật sự bắt đầu sau khi bạn chọn chủ thể. Hãy để ý tới những phần còn lại trong khung cảnh; chỉ lấy những gì bổ sung chủ thể của bạn và loại ra mọi thứ khác. Hậu cảnh làm nên tấm hình. Một hậu cảnh sạch sẽ làm chủ thể của bạn nổi bật lên, biến nó thành điểm chủ yếu đối với người xem.




Tấm ảnh được chụp với hậu cảnh "sạch tối đa", làm nổi bật tất cả màu sắc sặc sỡ của chủ thể. Photo: Andy NguyễnTấm ảnh được chụp với hậu cảnh "sạch tối đa", làm nổi bật tất cả màu sắc sặc sỡ của chủ thể. Photo: Andy Nguyễn

7. Đường chân trời xéo
Thêm một lỗi mà thường trực xảy ra là đường chân trời không được ngang thẳng. Đây là một điều quá đơn giản để chú ý nhưng vẫn còn có cả một đống hình bị chân trời xéo!

Người xem có cảm giác “khó chịu” khi tấm ảnh mà đường chân trời bị xéo. Chứng tỏ rằng những chủ thể đứng theo chiều dọc nên đứng thẳng góc so với mặt đất. Người, tòa building, con chim, hoặc thân cây nghiêng về một bên sẽ làm vật đó có nguy cơ bị ngã xuống (trừ khi vật đó bị nghiêng trong thực tế như tòa tháp nghiêng nghiêng!)

Cách giải quyết: Dùng đường kẻ ô khi bạn đặt bố cục lúc đi chụp, hoặc sửa đường chân trời sau khi chụp (trong máy vi tính) . Tìm một vật gì có đường ngay hoặc dọc trong thực tế, và dùng vật đó để làm điểm mốc khi bạn muốn sửa thẳng tấm ảnh. Một tấm ảnh đẹp bị hỏng vì đường chân trời xéo, làm người xem bị khó chịu.


Đường chân trời “lên dốc” (nhất là những tấm ảnh có đường chân trời trên mặt nước) là một trong những điều tối kỵ trong nhiếp ảnhĐường chân trời “lên dốc” (nhất là những tấm ảnh có đường chân trời trên mặt nước) là một trong những điều tối kỵ trong nhiếp ảnh

8. Thiếu chiều sâu
Nên nhớ, nhiếp ảnh là một môi giới 2-chiều nhưng người chụp chỉ nhìn thấy sự vật theo 3-chiều. Những người chụp ảnh thường thiếu sót chiều sâu vốn có trong nhiếp ảnh. Bạn thấy một cảnh tuyệt đẹp trong không gian 3-chiều và bạn chụp cảnh đó, nhưng bạn lại gãi đầu thắc mắc không hiểu nó bị gì khi bạn xem lại hình trên màn ảnh monitor. Có một cái gì đó bị thiếu sót. Đây không phải là khung cảnh bạn đã thấy. Tại sao? Bạn đã không suy nghĩ rằng bạn đang chụp một cảnh 3-chiều với một tấm ảnh 2-chiều.

Cách giải quyết: Có nhiều cách để tạo chiều sâu trong ảnh - bao gồm một vật ở tiền cảnh (gần hơn chủ thể), dùng đường dẫn mắt, thay đổi khía cạnh, vân vân… Nhưng điều quan trọng nhất là nhớ rằng khi bạn đi ra ngoài chụp, tấm ảnh chỉ là một môi giới 2-chiều. (Thường bạn sẽ nghe câu hỏi: “Tại sao tui nhìn thấy mập hơn trong hình? Đây là chính xác lý do tại sao! )

9. Quá nhiều thứ trong tấm ảnh

Quá nhiều bất cứ điều gì thì không tốt. Khi bạn thấy một khung cảnh, bạn nhìn thấy nó như một cảnh tổng quát, điều này cũng tự nhiên thôi. Nhưng nếu bạn cố gắng lấy vào ảnh mọi thứ bạn thấy trong cảnh, rốt cuộc bạn sẽ có một tấm ảnh với quá nhiều  chi tiết làm chi phối.

Cách giải quyết: Thử với những bố cục đơn giản. Thay vì chụp một ảnh của toàn cảnh đó, tự hỏi mình vật gì làm bạn thú vị nhất và chụp tấm ảnh để nhấn mạnh chỉ chủ thể đó thôi. Một khi bạn đã thông thạo với những bố cục đơn giản này, bạn sẽ có thể chụp những phong cảnh lớn bằng một phương pháp đơn giản hơn nhiều, nhưng lại thú vị hơn.

10. Ánh sáng xấu

Nhiếp ảnh là nói về ánh sáng. Không có ánh sáng có nghĩa không có nhiếp ảnh. Nhưng ánh sáng có phẩm chất và chiều hướng. Những tấm ảnh tốt nhất thường được chụp trong những “giờ vàng” và một thời gian ngắn trước khi mặt trời mọc và sau khi mặt trời lặn khi có ánh sáng tốt nhất. Nhiều tay ảnh có vẻ không màng đến hướng ánh sáng và phẩm chất ánh sáng chút nào. Một là ánh sáng bị quá chói đến nỗi có nhiều đốm sáng và tối trong khung cảnh, hoặc cặp mắt của người mẫu bị nằm trong bóng tối, hoặc ánh sáng quá “flat”, mỏng như tờ giấy, và những trường hợp khác.

Cách giải quyết: Bạn nên nhớ nhiếp ảnh liên quan tất cả đến ánh sáng. Nếu bạn càng học cách xác nhận ánh sáng, bạn sẽ càng trở thành một tay chụp ảnh giỏi hơn bạn nghĩ!

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015

Hướng dẫn cân bằng trắng khi chụp ảnh

Nguồn bài viết:

http://vuanhiepanh.com/news/Do-sang/Huong-dan-can-bang-trang-khi-chup-anh-392.html

Bài viết sau đây sẽ hướng dẫn từng bước một rất cụ thể, và bạn sẽ thấy thiết lập đúng WB cũng không phải là điều gì quá ghê gớm Cân bằng trắng (White Balance - WB) là một trong những thông số quan trọng nhất của máy ảnh. Hãy thử tưởng tượng bạn đang định chụp một khung cảnh tuyệt đẹp trên bãi biển với từng đợt sóng nhẹ nhàng xô trên bờ cát vàng mênh mông. Bạn nghĩ chắc chắn với chiếc máy mình đang cầm trên tay cùng điều kiện đủ sáng hoàn hảo như vậy sẽ tạo nên một bức ảnh toàn mỹ. Nhưng chưa chắc đã như vậy đâu, trong những hoàn cảnh có nhiều nguồn sáng hoặc nhiều vật thể với màu sắc phức tạp khác nhau, chế độ WB Auto của máy ảnh rất dễ bị nhầm lẫn. Và kết quả là ta sẽ có những tấm hình có màu sắc khác hoàn toàn với phiên bản gốc. Vậy phải làm thế nào để khắc phúc tình trạng đáng ghét này?

1. Nhiệt độ màu

 
Để hiểu được khái niệm và cách thức hoạt động của chế độ WB, trước hết bạn phải nắm được một số kiến thức căn bản nhất về nhiệt độ màu. Có thể hiểu nôm na nhiệt độ màu là một cách biểu hiện của những chùm ánh sáng có thể nhìn thấy được. Như bạn thấy, quanh ta có rất nhiều loại ánh sáng với nhiều màu sắc khác nhau, đa phần sự khác biệt này là do cường độ nguồn phát sáng. Dựa vào đó, người ta phân ra nhiều thang đo nhiệt độ màu, với đơn vị là độ K (Kelvin). Một nguồn sáng có nhiệt độ sáng càng cao sẽ càng phát ra ánh sáng có màu xanh hơn và có giá trị độ K cao hơn so với nguồn sáng yếu có màu đỏ dần. Bảng thống kê dưới đây sẽ cho bạn thấy rõ hơn về 9 mức nhiệt độ màu khác nhau, tương ứng với mỗi nấc là một ví dụ cho bạn dễ nắm bắt.





Ánh sáng nến: 1000-2000 K
Ánh sáng đèn bóng tròn: 2500-3000 K
Ánh nắng mặt trời lúc bình minh/hoàng hôn: 3000-4000 K
Ánh sáng đèn huỳnh quang: 4000-5000K
Ánh sáng đèn Flash: 5000-5500 K
Ánh nắng mặt trời lúc bình thường: 5500-6500 K
Ánh nắng mặt trời giữa trưa: 6000-7000 K
Trời có mây, bóng râm: 6500-8000 K
Trời trong xanh: 10000-15000 K
 

2. Ánh sáng có ảnh hưởng tới màu sắc như thế nào?

 
Nếu là người hay chụp ảnh, hẳn đã ít nhất một lần bạn gặp phải tình huống ảnh bị ngả màu vàng/cam khi chụp dưới ánh đèn bóng tròn (đèn Vonfram, Tungsten), hoặc ngả mà xanh nhạt khi chụp trong phòng dùng đèn huỳnh quang. Tình trạng này xảy ra là vì mỗi nguồn sáng đều phát ra một nhiệt độ màu khác nhau. Một máy ảnh kỹ thuật số có thể đo được các màu như đỏ, xanh lá, xanh lam trong một chùm sáng tới cảm biến. Một bức ảnh được chụp dưới ánh sáng mặt trời ban ngày sẽ có đầy đủ các bước sóng trong một quang phổ (tức là ánh sáng trắng). Vì vậy, khi chụp dưới ánh đèn bóng Vonfram mà không chỉnh nhiệt độ màu về đúng nấc sẽ có hiện tượng trên do chùm sáng phát ra từ bóng đèn loại này có bước sóng khác với ánh sáng trắng (được tạo nên bởi 7 màu cơ bản). Một mẹo nhỏ để bạn dễ nhớ và áp dụng là nguồn sáng có nhiệt độ càng cao (ngọn lửa đèn khò, bếp ga) thì phát ra ánh sáng càng xanh, nguồn sáng có nhiệt độ càng thấp ( ngọn nến, đèn dầu) thì ánh sáng càng đỏ.


3. Vì sao phải chỉnh WB?

 
Như đã nói ở phần trên, mỗi nguồn sáng có một màu sắc khác nhau, tùy thuộc vào chúng thuộc khoảng bước sóng nào trong quang phổ vạch. Những nguồn sáng nhấn tạo hầu hết đều có nhiệt độ màu thấp và lượng nhiệt nhỏ hơn ánh sáng mặt trời. Những chùm sáng này vì thế có bước sóng nhỏ, và thuộc dải sáng đơn sắc màu đỏ (nằm trong khoảng 0.644 đến 0.76 micromet). Khi đi vào cảm biến máy ảnh, chúng sẽ được những tế bào sáng màu đỏ trong hệ màu RGB của cảm biến hấp thụ. Chính vì thế bức ảnh sẽ bị ngả màu cam hoặc vàng tùy vào mức độ ánh sáng.
 
Máy ảnh số, những cảm biến cùng vi xử lý hình ảnh đắt giá tới hàng chục triệu cũng vẫn là máy móc nên không thể nào có khả năng kỳ diệu như con mắt của loài người được. Mắt của chúng ta cùng hệ thần kinh thị giác có khả năng tự động điều chỉnh khi tiếp xúc với những nguồn sáng và nhiệt độ màu khác nhau để hiển thị về màu sắc một cách trung thực chỉ trong một tíc tắc rất nhỏ. Một chiếc camera thì không thông minh đến vậy, nên khi rơi vào những trường hợp ánh sáng phức tạp, ta phải tự điều chỉnh nó cho phù hợp với môi trường xung quanh.
 

4. Thiết lập thông số về WB





Auto: Chế độ tự động cân bằng trắng có trên mọi máy ảnh số ngày nay, và trên hầu hết các mẫu smartphone, được ký hiệu là AWB. Theo thời gian, cùng với sự tiến bộ của công nghệ, các máy ảnh số ngày càng thông minh hơn, nên sử dụng AWB trong đa số trường hợp đều cho ra màu sắc chuẩn hoặc sai khác có thể chấp nhận được. Tuy nhiên nếu cảm thấy không hài lòng khi sử dụng chế độ này, bạn nên chuyển qua dùng các thiết lập khác cho phù hợp.
 
Tungsten: Bạn nên dùng preset này khi chụp trong nhà, dưới ánh đèn bóng tròn Vonfram. Màu sắc của bức ảnh sẽ bớt bị ngả vàng, và dịu đi thấy rõ khi bạn sử dụng.
 
Fluorescent: Ngược lại với Tungsten, thiết lập chế độ này sẽ làm tông màu sáng và ấm hơn. Bức ảnh của bạn sẽ không còn ám màu xanh ảm đạm nữa.
 
Daylight: Dùng khi chụp ngoài trời, dưới ánh sáng mặt trời có cường độ bình thường, không quá chói chang. Hiện tại, chỉ có một số máy ảnh có preset này mà thôi.
 
Cloudy: Khi chụp ngoại cảnh trong một ngày nhiều mây, hãy nhớ đến chế độ này. Tác phẩm của bạn trông sẽ tươi tắn, tràn đầy sức sống hơn bình thường.
 
Flash: ánh đền Flash có nhiệt độ màu rất cao, rất dễ gây hiện tượng cháy sáng nếu không biết cách sử dụng. Khi kích hoạt chế độ này cảm biến sẽ tự động điều chỉnh để tiếp nhận ánh sáng đều hơn giữa vùng có và không có Flash.
 
Shade: chụp trong bóng râm làm ảnh bị tối và ảm đạm hơn những gì mắt ta nhìn khung cảnh thực. Chế độ Shade sẽ làm tăng độ ấm áp cho tấm hình.
 

5. Chỉnh WB thủ công

 
Nếu tất cả những preset trên vẫn chưa đưa ra được một kết quả có thể chấp nhận được thì đã đến lúc bạn phải ra tay điều chỉnh WB. Có rất nhiều cách để làm điều này, nổi tiếng hơn cả vẫn là phương pháp grey card – sử dụng một tấm thẻ có màu xám chuẩn được in ra để thiết lập làm mẫu. Tuy nhiên, điều này khá là phiền phức vì không phải ai cũng muốn kè kè tấm thẻ đó bên người, dưới đây sẽ là một phương pháp khác linh hoạt hơn, nhưng về nguyên lý thì không có gì khác grey card. Bạn hãy tìm một vật thể nào thật trắng để chụp lại làm mẫu. Sau đó chỉnh thiết lập trong máy ảnh lấy màu trắng bạn vừa chụp được làm WB chuẩn. Rất đơn giản, chỉ có vậy là xong. Từ đó trở đi, máy của bạn đã có thể phân tích được trong môi trường hiện tại thì màu trắng chuẩn là như thế nào, để từ đó có thể nhận định chính xác những màu sắc khác. Tất nhiên, khi di chuyển đến một khung cảnh có điều kiện sáng khác, bạn lại phải thực hiện lại thao tác này. Nhưng tốn vài giây để có hàng chục tấm hình đẹp thì không đáng kể gì cả.





Kết luận

 
Hãy bỏ ngoài tai những lời nhận xét đầy tính mỉa mai rằng sử dụng AWB hoặc những preset có sẵn trong máy chỉ dành cho những tay mơ. Thực tế, trong hầu hết trường hợp, những thiết lập trên đều hoạt động hoàn hảo, và không phải lúc nào bạn cũng có thời gian để kịp chỉnh tay chế độ WB. Vì thế, hãy sử dụng thành thạo những preset có sẵn trong máy cho quen tay trước khi tập tành chế độ manual, vì xét cho cùng cái đich mà chúng ta hướng tới đều là một tấm hình đẹp mà thôi.