Chủ Nhật, 22 tháng 6, 2014

Phá vỡ quy tắc nhiếp ảnh, tại sao không?

Bài viết trên trang này, các bạn đọc và vọc tùy cảm nhận của mình nhé :)

http://congnghe.5giay.vn/threads/pha-vo-quy-tac-nhiep-anh-tai-sao-khong.296/


Học và hiểu về những quy tắc cơ bản của nhiếp ảnh là một điều tối cần thiết để vượt ra khỏi ranh giới của những tay mơ bắt đầu cầm máy. Tìm hiểu về bố cục, cách thức mà độ mở ống kính hay tốc độ chụp tác động lên một bức ảnh thực sự sẽ khiến kỹ năng cầm máy của bạn được nâng cao.



Nếu chỉ đơn giản tuân theo các quy tắc nhiếp ảnh có thể tìm kiếm đầy rẫy từ mọi nguồn trên mạng thì những bức ảnh được chụp ra, dù có đẹp cũng sẽ chỉ giống với những gì người khác đã chụp trước đó. Những bức ảnh không có sự sáng tạo, được chụp từ thói quen, sách vở, theo một lối mòn tư duy đã cài đặt sẵn trong đầu óc bạn. Năm, mười năm hoặc thậm chí chưa lâu đến thế, khi nhìn lại những gì mình đã chụp, liệu bạn có thể nhặt ra được nhiều hơn một tấm hình để chỉ vào nó mà nói rằng: “Đây là đột phá nhiếp ảnh của tôi”?

Chụp hình khi trong đầu không hề có một chút kiến thức nào về nhiếp ảnh rất khác với chụp hình khi đã gạt ra khỏi đầu tất cả những kiến thức nhiếp ảnh mà mình biết. Bởi vì, nếu đơn thuần chỉ “ăn may” chụp được một tấm hình đẹp, bạn sẽ không thể biết làm sao để lặp lại chúng một lần nữa.

Và giờ đây là lúc bạn cầm máy lên và tạm quên đi những quy tắc gò bó, để tạo ra cái riêng cho mình.
1. Để nhiếp ảnh không phải là một thói quen nhàm chán

Có bao giờ bạn gặp phải tình huống này: Cuối tuần bạn được nghỉ, bạn “phải” xách máy ra khỏi nhà vì hôm nay trời rất đẹp. Bạn “phải” chụp ảnh macro hoa lá vì bạn đang cùng vợ con đi chơi ở một vườn hoa rất đẹp. Bạn “phải” áp dụng nguyên tắc 1/3 vì bức ảnh này có đường chân trời và chủ thể rất phù hợp với bố cục đó. Vân vân và vân vân.

Hay cô bạn thân nhờ bạn thực hiện giúp một bộ ảnh chân dung để tham dự một cuộc thi sắc đẹp qua ảnh. Bên cạnh bạn, cô ấy còn nhờ thêm hai anh “nhiếp ảnh gia” nữa. Ba người đều tỏ ra khiêm tốn, nhún nhường, khen ngợi và góp ý với nhau qua mỗi tấm hình. Bạn đưa máy lên ngắm chụp, và như thể có một sức ép nặng nề khiến bạn “phải” bố cục máy như thế này, đặt độ mở như thế kia, yêu cầu cô bạn tạo dáng theo cách đó.




Tất cả những cái “phải” đó đều là xiềng xích bạn tự khoác lên mình sau khi đã đọc và rèn luyện hàng trăm, hàng nghìn lần theo các tài liệu dạy về nhiếp ảnh. Bạn phát ớn lên vì những tấm hình lúc nào cũng hao hao giống nhau, nhưng chúng “an toàn”. Bởi bạn lo sợ việc từ bỏ chúng sẽ khiến bạn đón nhận lại chỉ những cái chau mày và lời khen miễn cưỡng từ bạn bè, vợ con khi cho họ xem ảnh.

Việc đó có thể xảy ra với mỗi lần cầm máy đi chụp, và điều đó vô tình trở thành một áp lực khiến chiếc máy bạn cầm trên tay bỗng trở nên quá nặng nề. Chụp ảnh trở thành một nghĩa vụ, một thứ công việc khác trong khi điều bạn thật sự cần khi cầm máy ra ngoài vào cuối tuần là để xả hơi, thư giãn sau một tuần làm việc căng thẳng.

Đừng vội nghĩ về những gì người khác sẽ đánh giá mình từ khi mới đưa mắt vào kính ngắm. Thay vì nghĩ rằng cô bạn kia nhờ cậy vì bạn là một người có kiến thức rất sâu rộng về nhiếp ảnh, hãy nghĩ rằng ngoài kia còn rất nhiều người khác cũng nắm rõ những quy tắc không mất tiền để đọc được đầy rẫy trên mạng đó, và nếu bạn chỉ chụp được những thứ giống như họ, lần sau khi bạn bận, cô bạn kia sẽ chẳng khó khăn gì tìm được một người thay thế tốt hơn.

Hãy luôn thử phá bỏ những nguyên tắc đang vô tình trở thành thứ xiềng xích khiến bạn luôn nghĩ mình “phải” làm một cái gì đó. Hãy có thể bắt đầu một ý tưởng mới, một thử thách mới trong mỗi lần cầm máy. Bạn có ống kính tele 70-200 chuyên để chụp chân dung và hoa lá trên cao ư? Sao không thử lấy nó ra và chụp những bức ảnh đời thường “lén lút”? Bạn đi chơi cùng vợ con ở một vườn hoa rất đẹp ư? Sao không thử săn lùng những bức ảnh chụp con ong đang hút mật?

2. “Sai số” đôi khi là giải pháp duy nhất, hoặc tốt hơn




Mọi phép tính luôn tồn tại một hoặc nhiều hơn một sai số. Nhiều khi bạn cứ cố áp đặt chủ thể vào một đường dọc mạnh nhưng bức ảnh không thể thành công vì hậu cảnh phía sau quá rối rắm với đường chân trời xiên xẹo. Sao không thử “ném” chủ thể vào chính giữa khung hình, và tiến lại gần sát hơn để tận dụng chủ thể như một bức phông màn che đi những “rác rưởi” phía sau? Hành động đó có thể là “sai số” trong nguyên tắc 1/3, nhưng lại được biết đến với cái tên khác là “tính cân đối trong bố cục” và “kỹ thuật làm đầy khung hình”. Thú vị, phải không?

3. Thử sức sáng tạo giúp bạn tôn trọng hơn những gì bạn không hiểu

Chúng ta vẫn thường đi xem những triển lãm tranh của một họa sỹ ABC XYZ rất thành công và nổi tiếng nào đó. Đứng hồi lâu trước một bức tranh, rồi khẽ huých khuỷu tay nhau và hỏi nhỏ: “Hiểu gì không?” trước khi lẩn ra một góc khuất và cười hô hố: “Siêu thực mà, siêu thực phải thế, làm sao mà hiểu được!” Vấn đề là đằng sau nụ cười giễu cợt đó, trong thâm tâm bạn tự biết mình không thể vẽ được cái giống như họ. Bạn không biết họ đã sử dụng những kỹ thuật gì. Thậm chí bạn không biết cả cách họ đã pha màu ra làm sao.



Cố gắng phá vỡ những nguyên tắc căn bản được học để nhận ra việc đó khó đến nhường nào – bởi “ngoài trời còn có trời”, thứ mà bạn tưởng như mình đang “sáng tạo” đa phần đều chỉ là một thứ còn trong bóng tối nằm ngoài sự hiểu biết của bạn – sẽ giúp bạn biết tôn trọng hơn những nỗ lực của các cá nhân khác đã làm để tạo nên sự đột phá và thiết lập những bước phát triển cao hơn trong lịch sử nhiếp ảnh.

4. Bạn chẳng mất gì khi sáng tạo
Thời kỳ của những cuộn phim đã qua rồi… Thời kỳ mà mỗi lần nhấn chụp là mỗi lần ví mình mỏng lại. Chụp – không ưng – xóa – chụp – không ưng – xóa… Thậm chí còn chẳng cần xóa khi công nghệ kỹ thuật số ngày nay đã tạo ra những chiếc thẻ nhớ với dung lượng lên đến vài trăm Gb, những chiếc ổ cứng di động nhỏ như business card với dung lượng lên đến hàng Tb. Cũng đừng nói rằng mỗi lần bấm máy tuổi thọ màn trập sẽ giảm dần. Rồi bạn sẽ mau chóng nhận ra rằng, chiếc máy luôn bị bán đi vì chúng ta “ham vui” với công nghệ mới trước khi chúng đạt đến ngưỡng phải thay màn trập.

5. Nguyên tắc cũng do con người tạo ra

Nhiếp ảnh, cũng như mọi ngành nghề khác, đứng trên đôi vai của những kẻ khổng lồ: Avedon, Adams, Karsh, v..v.. danh sách này là bất tận. Chúng ta học hỏi từ họ cách sử dụng ánh sáng tự nhiên, cách xếp đặt chủ thể, cách lựa chọn một chiếc máy và ống kính, chúng ta thuộc nằm lòng những phát ngôn về nhiếp ảnh của họ và chúng ta trở thành những đệ tử không được thừa nhận của họ. Nếu may mắn và tài năng có đủ, chúng ta chụp được những tấm hình gần đạt tới đẳng cấp thế giới. Nhưng với tất cả những ai hiểu biết về nhiếp ảnh, và quan trọng hơn, với chính bản thân chúng ta, những bức ảnh đó chỉ đơn giản là một sự sao chép. Điều đó cũng giống như “hàng fake loại 1”, “hàng nội địa Trung Quốc” hay hàng gì đi chăng nữa thì cũng chỉ là một sự sao chép rẻ tiền từ những gì người khác đã làm ra.



Tất nhiên, bạn có thể cho rằng việc sáng tạo là của những người khác, của những người sống bằng nghề nhiếp ảnh, nổi tiếng bằng nghệ thuật nhiếp ảnh chứ không phải là việc của chúng ta, những người cuối tuần cầm máy đi chơi để làm giàu thêm đời sống tinh thần. Nhưng ít ra, nó cũng khiến “cuộc chơi nhiếp ảnh” của chúng ta được trở nên thú vị hơn. Để chúng ta đừng quên đi mất lý do mình đã bỏ ra cả một số tiền lớn để mua lỉnh kỉnh những body và lens thay vì một chiếc máy du lịch rẻ tiền là gì. Tìm tòi, khám phá, trong mọi lĩnh vực luôn có sự liên đới lẫn nhau. Giữ cho đầu óc mình được tư duy sáng tạo luôn là một liều thuốc tốt để phá vỡ một nếp sống trì trệ.Và như đã nói trong các note trước, bạn nào cảm thấy các bài viết này tag các bạn là vô bổ xin  để tin nhắn giúp Già tui bỏ qua những lần sau nhé. Mến :)

10 quy tắc về bố cục trong nhiếp ảnh

Nguồn: http://vhnthcm.edu.vn/10-quy-tac-ve-bo-cuc-trong-nhiep-anh/

Già tui chỉ sưu tầm và mang về đây để các bạn tiện tham khảo, dù sao thì tui vẫn quý nhất câu nói của nhà nhiếp ảnh lừng danh Ansel Adams"There are no rules for good photographs, there are only good photographs" Tạm dịch: Chỉ có những bức ảnh đẹp chứ không có quy tắc hòng tạo ra những bức ảnh đẹp!
Có thể xem ảnh của ông tại website: http://www.anseladams.com/

...

Trong nhiếp ảnh không có một quy tắc nào là luôn đúng. Dù vậy cũng có những quy tắc về bố cục có thể được áp dụng trong hầu hết các trường hợp, giúp cho bạn có được những bức ảnh đẹp hơn.
Những quy tắc này sẽ giúp cho bức ảnh của bạn có được sự cân bằng, thu hút sự chú ý vào những phần quan trọng trong ảnh. Một khi bạn đã quen với các quy tắc này, bạn sẽ thấy ngạc nhiên khi thấy chúng được áp dụng rất nhiều. Bạn sẽ thấy những bức ảnh được áp dụng quy tắc ở bất cứ đâu, và dễ dàng nhận ra vì sao một số bức ảnh thực sự gây ấn tượng, trong khi có những bức ảnh trông như thể một bức được chụp vội vàng.
Dưới đây là 10 quy tắc phổ biến về bố cục, được tổng hợp từ PhotographyMad.
Quy tắc Một phần ba
Hãy tưởng tượng rằng bức ảnh của bạn được chia thành 9 phần, bởi 2 đường kẻ dọc và 2 đường kẻ ngang. Trong quy tắc Một phần ba, bạn nên đặt các phần quan trọng của khung cảnh dọc theo các đường kẻ, hoặc ở các điểm mà chúng giao nhau.
Khi thực hiện điều đó, bức ảnh sẽ có thêm sự cân bằng và thú vị. Một số máy ảnh có sẵn tính năng hiển thị các đường kẻ trên màn hình LCD, để bạn dễ dàng áp dụng quy tắc này.

Các yếu tố cân bằng
Khi bạn đặt một chủ thể lệch khỏi tâm của bức ảnh, như khi áp dụng quy tắc Một phần ba, điều đó sẽ làm bức ảnh thú vị hơn, nhưng cũng làm lộ ra một phần trống trong ảnh. Bạn nên cân bằng "trọng lượng" của chủ thể trong ảnh bằng cách đưa vào một chủ thể khác, ít quan trọng hơn, để lấp vào chỗ trống đó.

Đường dẫn ánh nhìn
Khi nhìn vào một bức ảnh, đôi mắt chúng ta sẽ tự nhiên nhìn vào các đường kẻ. Bằng cách suy nghĩ về việc đặt các đường kẻ trong bố cục, bạn có thể tác động đến cách người xem nhìn tấm ảnh, thu hút ánh nhìn vào chủ thể chính, hay lướt qua khung cảnh. Có rất nhiều loại đường dẫn – thẳng, chéo, cong, zigzag… –  và mỗi loại đều có thể cải thiện được bố cục của bức ảnh.

Các khuôn mẫu và sự đối xứng
Xung quanh chúng ta có rất nhiều mẫu hình có tính đối xứng, cả trong tự nhiên và do con người tạo ra. Chúng có thể tạo nên bố cục rất bắt mắt, nhất là khiến người xem bất ngờ khi trong một khung cảnh đặc biệt lại có thể xuất hiện sự đối xứng. Một cách sắp xếp bố cục khác là phá bỏ khuôn mẫu đối xứng, bằng cách tạo ra các tiêu điểm lệch trung tâm.

Góc chụp
Trước khi chụp chủ thể, hãy dành thời gian để nghĩ xem bạn sẽ chụp nó theo góc nào. Góc chụp có ảnh hưởng lớn tới bố cục của bức ảnh, và do đó có thể thay đổi thông điệp người chụp muốn chuyển tải. Thay vì chụp bằng góc nhìn ngang tầm mắt, hãy thử chụp với góc nhìn từ trên cao xuống, từ dưới nhìn lên, từ bên cạnh, đằng sau, xa hay gần…

Nền của ảnh
Đã bao nhiêu lần bạn xem ảnh mình chụp và thấy rằng bức ảnh thiếu ấn tượng, bởi chủ thể bị lẫn vào một nền có quá nhiều đối tượng đằng sau? Mắt người có thể nhận biết rất nhanh các yếu tố bị lẫn vào nhau, nhưng máy ảnh lại có xu hướng làm bẹt phần nền ở phía trước và phía sau, và điều này có thể làm hỏng một bức ảnh đẹp. Rất may là bạn có thể dễ dàng khắc phục vấn đề này ngay khi chụp – hãy chụp ảnh trên một nền đơn sắc và không gây chú ý, để người xem hoàn toàn tập trung vào chủ thể chính của ảnh.

Độ sâu của bức ảnh
Do nhiếp ảnh diễn tả hình ảnh hai chiều, ta cần chọn bố cục kĩ lưỡng để đảm bảo bức ảnh có thể diễn tả được độ sâu của khung cảnh thực tế. Bạn có thể tạo chiều sâu cho bức ảnh bằng cách đưa vào các đối tượng ở cả phần trước, giữa và sau của khung cảnh. Bạn cũng có thể che bớt một phần của chủ thể bằng một chủ thể khác. Mắt người có thể nhận ra các lớp trong bức ảnh và tách biệt chúng ra, tự tạo thành một bức ảnh có chiều sâu.

Đóng khung
Có rất nhiều sự vật có thể tạo thành các khung ảnh tự nhiên, như cây cối, những con đường hay hố sâu. Bằng cách đặt các sự vật này quanh bố cục của bức ảnh, bạn có thể tách chủ thể chính ra khỏi khung cảnh bên ngoài. Nhờ đó ánh nhìn của người xem sẽ tự nhiên được dẫn vào điểm quan trọng nhất của ảnh.

Tập trung vào chủ thể chính
Thường thì một bức ảnh sẽ không gây ấn tượng nếu như chủ thể chính quá nhỏ, khiến cho nó bị hòa lẫn vào môi trường xung quanh. Bằng cách đặt khung ảnh thật sát vào chủ thể chính, bạn sẽ loại bỏ được sự chú ý của người xem vào môi trường xung quanh, đảm bảo chủ thể chính có được sự chú ý cần thiết.

Hãy mạnh dạn thử nghiệm
Từ khi máy ảnh số trở nên phổ biến, chúng ta không còn phải lo về giá tiền của phim hay sợ hết phim khi đang chụp nữa. Do vậy, bạn có thể thử thật nhiều bố cục cho một bức ảnh; ta có thể chụp hàng trăm bức ảnh và sau đó xóa những bức không mong muốn mà không tốn kém gì cả. Hãy tận dụng điều này, thử nghiệm với các bố cục khác nhau – bạn sẽ không thể biết một ý tưởng có tốt không nếu như không thử.
Bố cục trong nhiếp ảnh không phải là một môn khoa học, và tất cả các "quy tắc" trên đều không phải bất biến hay luôn đúng. Nếu như bạn áp dụng một quy tắc với một khung cảnh nhất định và thấy nó không có tác dụng, hãy bỏ qua nó. Nếu như bạn nhận ra một bố cục không theo quy tắc nào nhưng vẫn rất thuyết phục, hãy chụp theo bố cục đó. Dù sao, các quy tắc trên cũng rất phổ biến, và cũng đáng để cân nhắc mỗi lần bạn chụp ảnh.
Theo Tuấn Anh -VnReview


Note này tag một số bè bạn mà Già tui nghĩ là có quan tâm đến việc chộp ảnh. Các bạn giỏi hơn mức gợi ý xin đừng cười, các bạn hong thích tag xin báo Già tui biết để lần sau hong quấy rầy bạn nữa. Heng.

Ngày off kế tiếp, Già tui sẽ post một tư liệu khác... xúi các bạn đừng thèm quan tâm quy tắc nhiếp ảnh, haha.

Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

Sử dụng các chế độ ưu tiên khẩu độ, tốc độ và lập trình...

Dành cho các bạn bắt đầu mê nhiếp ảnh, sưu tầm và copy từ nguồn này:

http://vinacamera.com/?p=248#more-248

(Một số từ ngữ có phần hơi"khíu chọ" nhưng tôn trọng tác giả nên Già để nguyên vậy, mong các bạn thông cảm)


Vòng chuyển chế độ chụp ở Canon 450D và Nikon D90
Vòng chuyển chế độ chụp ở Canon 450D và Nikon D90


VinaCamera.com – Đối với nhiều người sử dụng máy ảnh KTS, lúc nào nên chọn chế độ ưu tiên khẩu độ mở (A ở Nikon / Av ở Canon), ưu tiên tốc độ cửa chập (S ở Nikon / Tv ở Canon) và chế độ lập trình sẵn (P) là một câu hỏi phức tạp. Sau đây là hướng dẫn giúp các bạn hiểu rõ các yếu tố tạo nên một bức ảnh cũng như đặc điểm của từng yếu tố để sử dụng từng chế độ cho phù hợp.
1. Phơi sáng (exposure)
Một bức ảnh được tạo ra bởi quá trình thu nhận ánh sáng lên cảm biến của máy ảnh KTS (image sensor) – mà trước đây là bản phim nhựa – tức là cho cảm biến hay phim “phơi sáng” (exposure). Có ba yếu tố ảnh hưởng tới quá trình phơi sáng: Độ nhạy ISO, khẩu độ mở (của lỗ điều tiết ánh sáng trên ống kính) và tốc độ cửa chập (thời gian – thường tính bằng một phần của giây đồng hồ).

- Độ nhạy ISO: càng cao thì cảm biến bắt sáng càng nhạy, ảnh càng sáng (nếu hai yếu tố kia là không đổi).
- Khẩu độ mở: càng lớn thì luồng ánh sáng lọt qua lỗ điều tiết ánh sáng (aperture) càng nhiều làm ảnh càng sáng (nếu hai yếu tố kia là không đổi). Chú ý: Khẩu độ mở được tính bằng chỉ số f/stop, ví dụ f/1.4, f/2.8, f/8 hay f/32; chỉ số này càng nhỏ thì khẩu độ mở càng lớn và ngược lại.
- Tốc độ cửa chập: Cửa chập là bộ phận mở ra (rồi đóng lại) khi bấm máy nhằm điều chỉnh thời gian phơi sáng của cảm biến. Tốc độ cửa chập càng chậm, thì thời gian phơi sáng càng nhiều, dẫn tới ảnh càng sáng (nếu hai yếu tố kia là không đổi).
Ở máy ảnh sử dụng phim nhựa truyền thống, độ nhạy ISO phụ thuộc vào loại phim người chụp sử dụng, ví dụ phim ISO-100, ISO-400; hai yếu tố khẩu độ mở và tốc độ cửa chập đều được điều chỉnh bằng tay (cơ học) bằng cánh điều chỉnh vòng khẩu độ trên ống kính (aperture ring) và vòng tốc độ trên thân máy (shutter speed dial), và vì vậy các máy này thường được gọi là các máy “cơ” (manual). Chế độ “cơ” hoàn toàn -  được ký hiệu là M (Manual) ở mọi loại thân máy – này hiện vẫn còn được sử dụng ở các máy ảnh KTS trung/cao cấp và chuyên nghiệp để giúp nhiếp ảnh gia có thể làm chủ hoàn toàn các yếu tố phơi sáng một cách sáng tạo.
Tuy nhiên, để máy ảnh trở nên “thân thiện” hơn với người chơi ảnh thuộc mọi tầng lớp, dựa vào sự tiến bộ của công nghệ chế tạo máy ảnh, các nhà sản xuất đã phát triển nhiều tính năng tự động cho máy ảnh như chế độ lập trình sẵn (progam), ưu tiên khẩu độ mở (aperture priority) và ưu tiên tốc độ cửa chập (shutter speed priorty).

Ký hiệu các chế độ này có khác nhau đôi chút ở các hãng khác nhau. Ví dụ:
- Lập trình sẵn: Program (P) ở cả Canon và Nikon
- Ưu tiên khẩu độ mở: Aperture value (Av) ở Canon và Aperture priority (A) ở Nikon
- Ưu tiên tốc độ cửa chập: Time value (Tv) ở Canon và Shutter speed priority (S) ở Nikon
2. Đặc điểm các yếu tố khẩu độ mở và tốc độ cửa chập
Để bức ảnh được phơi sáng hợp lý, người chụp cần điều chỉnh tăng giảm các yếu tố nêu trên một cách linh hoạt. Đối với độ nhạy ISO, trong những trường hợp đã tận dụng hết khả năng hai yếu tố còn lại mà máy ảnh cho phép nhưng vẫn không đạt được hiệu quả ánh sáng mong muốn, người chụp thường phải tăng độ nhạy ISO của cảm biến (hay phim).
Vậy còn hai yếu tố khẩu độ mở và tốc độ cửa chập? Tại sao không luôn cố định một trong hai yếu tố và chỉ cần tăng giảm yếu tố còn lại cho bớt phức tạp, chẳng hạn tại sao không luôn để ống kính mở ở khẩu độ tối đa rồi chỉ cần điều chỉnh tốc độ chụp? Thực tế hoàn toàn không đơn giản như vậy bởi mỗi yếu tố đều đi kèm với những điều kiện và hiệu ứng nhất định đối với bức ảnh.
Đặc điểm tốc độ cửa chập
Tốc độ cửa chập điều tiết thời gian phơi sáng của cảm biến. Nếu khoảng thời gian phơi sáng dài (tốc độ chậm), ảnh sẽ bị ảnh hưởng bởi các chuyển động của chủ thể muốn chụp và việc rung tay máy cầm chụp (hand-holding), dẫn tới hình ảnh ghi nhận sẽ bị nhòe mất nét (blur). Mỗi người chụp có khả năng giữ cho máy không rung ở tốc độ tối thiểu cho phép, nhưng nhìn chung, để đảm bảo ảnh không bị nhòe do rung tay máy, tốc độ cửa chập an toàn nhất để có được hình ảnh nét căng (stack sharp) phải là 1/250s (giây). Trong nhiều trường hợp ánh sáng quá yếu đòi hỏi phải đặt tốc độ của chập rất chậm – như 1/60s, 1/30s hay 1 giây và thấp hơn, thâm chí ngay cả những tay máy lão luyện cũng phải đặt máy lên chân máy (tripod) mới có thể triệt tiêu được hiện tượng rung tay. Tuy vậy, dù tay máy của bạn có vững đến đâu đi chăng nữa và ngay cả chân máy cũng không thể khiến chủ thể đứng yên để chụp (như trong chụp thể thao, chim thú, v.v…) vì vậy vẫn phải tăng tốc độ cửa chập lên cao – ví dụ: chụp chim trời bay lượn thường phải đặt ở tốc độ lớn hơn 1/1250s) để loại bỏ hiện tượng nhòe ảnh.
Trong điều kiện ánh sáng không thuận lợi như quá sáng hay quá tối, điều chỉnh tốc độ cửa chập là giải pháp duy nhất tạo phơi sáng hợp lý. Trong điều kiện quá sáng, sau khi đã khép tối đa khẩu độ mở mà ống kính cho phép, người chụp sẽ phải điều chỉnh tăng tốc độ cửa chập để giảm hơn nữa giá trị phơi sáng của bức ảnh. Ngược lại, trong điều kiện ánh sáng quá yếu, sau khi đã mở ống kính ở khẩu độ lớn nhất, người chụp sẽ phải giảm tốc độ cửa chập, đôi khi xuống rất thấp mới bảo đảm đủ sáng cho ảnh – và sẽ phải sử dụng chân máy để bảo đảm ảnh không bị nhòe.
Đặc điểm khẩu độ mở
Điều dễ hiểu là khẩu độ mở càng lớn (chỉ số f/stop càng nhỏ) thì ảnh càng sáng. Tuy nhiên, đi kèm mới lượng ánh sáng đi qua “lỗ” điều tiết ánh sáng (aperture) trong ống kính còn có các đặc điểm (cả mong muốn và không mong muốn) tạo hiệu ứng khác nhau cho mỗi bức ảnh.
Khẩu độ mở lớn giúp người chụp tạo phơi sáng phù hợp cho ảnh trong điều kiện ánh sáng yếu mà vẫn muốn duy trì tốc độ cao để tránh hiện tượng rung tay máy. Nhưng khẩu độ mở càng lớn lại làm cho chiều sâu ảnh trường (depth of field / DOF) càng nhỏ và tăng hiệu ứng nhòa mờ mất nét ngoài vùng căn nét (bokeh) trên cùng một bức ảnh. Hơn nữa do công nghệ sản xuất ống kính, các khẩu độ mở lớn còn tạo ra hiện tượng tối hơn ở các mép ảnh (vignetting).
Việc điểu chỉnh khẩu độ mở giúp người chụp làm chủ chiều sâu ảnh trường của bức ảnh, chủ động tạo DOF lớn (hay còn gọi là “dày”) để mọi chủ thể trong khuôn hình đều nết, như trong ảnh phong cảnh hay chụp nhóm nhiều người; hay ngược lại tạo DOF nhỏ (hay còn gọi là “mỏng”) để đạt được những hiệu ứng xóa phông (blur background) hay bokeh cũng như vignetting mong muốn.
Như vây ta thấy, không thể luôn cố định một trong hai yếu tố khẩu độ mở hay tốc độ cửa chập để chỉ phải điều chỉnh yếu tố còn lại cho bớt phức tạp mà phải điều chỉnh cả hai yếu tố một cách linh hoạt tùy thuộc điều kiện ánh sáng và mục đích chụp để đạt được những hiệu ứng mong muốn.
Với máy ảnh KTS, ở chế độ “cơ” hoàn toàn (full manual), người chụp sẽ làm chủ mọi yếu tố phơi sáng. Tuy nhiên, để giảm bớt gánh nặng “tính toán” cho người chơi ảnh không chuyên nghiệp, giúp xử lý nhanh trong các tình huống đặc biệt, công nghệ chế tạo máy ảnh KTS hiện đại – đặc biệt là công nghệ đo sáng tự động (metering) – đã cho ra đời những tính năng mới với các chế độ tự động và bán tự động làm hài lòng đông đảo người chơi ảnh
3. Chế độ lập trình sẵn (program)
Khác với chế độ tự động hoàn toàn (Auto / A) theo đó máy ảnh KTS sẽ tự động điều chỉnh mọi giá trị phơi sáng và tự động kích hoạt đèn flash khi thiếu sáng, với chế độ lập trình sẵn (P), máy ảnh KTS sẽ tự động điều chỉnh hai giá trị khẩu độ mở và tốc độ cửa chập, và cho phép người chụp điều chỉnh độ nhạy ISO, cân bằng trắng (White Balance / WB) và chế độ bật/tắt đèn flash (Flash ON/OFF).
Ngoài ra, ở chế độ P, người chụp còn có thể xoay bánh xe điều khiển để tạo các tổ hợp giá trị giữa khẩu độ mở và tốc độ, tạo ra các giá trị mong muốn; ví dụ, nếu đang ở chế độ P, máy căn sáng cho giá trị khẩu độ mở (A) = 4, và tốc độ cửa chập tương ứng là 1/60s để có ánh sáng phù hợp, người sử dụng có thể xoay bánh xe điều khiển về chiều này hoặc chiều kia để có các giá trị phơi sáng tương đương nhưng với tổ hợp khác nhau, nhưng tạo chiều sâu ảnh trường hay tốc độ để chống rung tay máy khác nhau: (1) xoay vòng bánh xe để mở khẩu ra f/2.8 và máy sẽ tự động điều chỉnh tốc độ nhanh lên 1/125s (tương đương về EV với f/4 + 1/60s), hoặc khép khẩu lên f/8 (để tạo chiều sâu ảnh trường lớn hơn với f/4) thì lúc này máy sẽ tự động giảm tốc độ xuống còn 1/15s (bù trừ 2 khẩu) để bảo đảm ánh sáng cho ảnh.

Gợi ý sử dụng chế độ P
- Khi chưa chủ động cách điều chỉnh khẩu độ mở và tốc độ cửa chập
- Muốn để máy tự động hoàn toàn nhưng muốn chủ động bật hay tắt đèn flash
- Muốn điều chỉnh độ nhạy ISO
- Muốn điều chỉnh chế độ cân bằng trắng
4. Ưu tiên tốc độ cửa chập (shutter speed priority)
Ở chế độ ưu tiên tốc độ cửa chập, máy ảnh KTS cho phép người chụp đặt tốc độ cửa chập – cũng như ISO và cân bằng trắng – còn máy sẽ tự động điều chỉnh khẩu độ mở để bảo đảm ánh sáng cho ảnh.

Gợi ý sử dụng chế độ ưu tiên tốc độ – S (Nikon) / Tv (Canon)
- Người chụp muốn bảo đảm triệt tiêu hiện tượng rung tay máy khi cầm chụp, nhiều người chụp thường đặt ở tốc độ từ 1/125s-1/250s để đạt được điều này.
- Trong điều kiện ánh sáng môi trường điều hòa, không quá gắt và không quá yếu, hay các trường hợp chụp trong nhà có ánh sáng môi trường tương đối ổn định, không phải chụp ngược sáng, v.v… chế độ S/Tv cũng cho phép người chụp giản thiểu tính toán phơi sáng bằng cách đặt một tốc độ chụp cố định (cùng ISO và WB cố định).
- Trong trường hợp sử dụng ống zoom (tiêu cự thay đổi) có khẩu độ mở thay đổi theo tiêu cự, việc đặt một tốc độ cố định cũng giúp giản thiểu tính toán phơi sáng khi chuyển tiêu cự chụp (zoom ra, zoom vào)
- Trong trường hợp sử dụng đèn flash số có TTL (through-the-lens) với ánh sáng tương đối không đổi giữa các kiểu chụp và bảo đảm tốc độ đồng bộ đèn (flash sync speed).
5. Ưu tiên khẩu độ mở (aperture priority)
Ở chế độ ưu tiên khẩu độ mở (A / Av), máy ảnh KTS sẽ cho phép người chụp chủ động đặt khẩu độ mở – cũng như ISO  và cân bằng trắng – còn máy sẽ tự động điều chỉnh tốc độ cửa chập để bảo đảm ánh sáng cho ảnh.

Gợi ý sử dụng chế độ ưu tiên khẩu độ mở – A (Nikon) / Av (Canon)
Với chế độ này, người chụp muốn chủ động điều chỉnh chiều sâu ảnh trường (DOF) để chủ động:
- Tăng DOF bằng cách đặt khẩu độ mở nhỏ (f/stop lớn) tạo độ nét sâu cho ảnh phong cảnh hay đảm bảo các chủ thể ngoài vùng căn nét cũng có độ nét cao như chụp một nhóm người, chụp cận cảnh phóng đại (macro), v.v…;
- Giảm DOF bằng cách đặt khẩu độ mở lớn (f/stop nhỏ) tạo hiệu ứng xóa phông (blur background) cao làm nổi bật chủ thể trong các tình huống như chụp chân dung, v.v… hay tạo hiệu ứng nhòa mờ ngoài vùng căn nét (bokeh) và chủ động tạo hiệu ứng tối mép ảnh (vignetting) ở những trường hợp nhất định.
- Sử dụng chế độ này trong các trường hợp nhận thấy tốc độ cửa chập không gây hiện tượng rung tay không ảnh hưởng tới ảnh do môi trường ánh sáng mạnh, hoặc có khả năng đặt máy cố định (lên chân máy) để dễ dàng chủ động điều chỉnh DOF và chụp với tốc độ chậm mà không phải tăng ISO lên quá cao vẫn bảo đảm phơi sáng tốt.
Như vậy, với hiểu biết về tính chất của từng yếu tố phơi sáng, sử dụng một trong hai chế độ ưu tiên tốc độ cửa chập hoặc ưu tiên khẩu độ mở sẽ giản thiểu công sức tính toán, đặc biệt giúp người mới chơi ảnh hay nghiệp dư có cơ hội tập trung hơn vào sáng tác nghệ thuật để có được những bức ảnh đẹp.
VinaCamera.com

Thứ Hai, 3 tháng 3, 2014

Con mắt là cửa sổ của tâm hồn... :)

Lại một bài sưu tầm khác từ tác giả Andy Nguyễn. Già rất hâm mộ một đôi nhiếp ảnh gia trên báo này, hi vọng có dịp sẽ giới thiệu những đam mê cùng thành tựu của Andy Nguyễn đến các bạn. Cũng thành thật cáo lỗi với Andy vì Già chưa tìm cách liên hệ với bạn để xin phép chia sẻ bài vở và hình ảnh, chỉ có thể dẩn link gốc để bè bạn vào xem(Nếu không bị cấm cửa từ VN, huhuhu). Link bài này ở đây:
http://baotreonline.com/Chuyen-muc-tre/Goc-nhiep-anh/con-mat-la-cua-so-cua-tam-hon-ky-70.htmlẢnh tác giả Andy Nguyễn.


Ống kính của những máy ảnh thường được ví như “cửa sổ tâm hồn”, và cũng được ví như các loại súng: nòng, đại bác (cà-nông), và một nhiếp ảnh gia chụp chim còn gọi nó là “bazooka” nữa …
Thường khi bạn mua một máy ảnh DSLR mới, tiệm camera bán chung với một “kit lens” - một ống kính tầm thường loại zoom, chỉ vừa đủ cho hầu hết những người mới bắt đầu (beginner). Nhưng sau một thời gian, bạn sẽ bắt đầu cảm thấy bị giới hạn bởi cái “kit lens” này, và nghĩ đến chuyện “đầu tư” vào một ống kính khác thích hợp hơn với kiểu chụp của bạn hoặc nâng trình độ của bạn cao hơn. Số lượng to lớn của những sản phẩm khác nhau ngoài thị trường và những thuật ngữ khó hiểu có thể làm cho một người đang tìm mua ống kính mới cảm thấy “ngán”, nhưng mỗi ống kính đều có một áp dụng thực tế khác nhau, và trong bài này, tôi sẽ trình bày tất cả những gì bạn cần biết.

Những"con mắt"!
Những"con mắt"!


Tiêu cự
Những con số khắc trên vòng ngoài của nòng kính là số tiêu cự. Đơn vị của tiêu cự được đo bằng mili-mét (mm hoặc ly) và bạn có thể xoay (xoắn) vòng giữa ống kính để thay đổi độ tiêu cự (nếu bạn đang dùng một zoom lens.)
Prime hoặc zoom?
- Một ống kính “prime” có một tiêu cự cố định. Như vậy nếu bạn muốn zoom vô hay ra, bạn phải bước tới hoặc bước thụt lùi, hay dùng một ống kính với tiêu cự khác. Những ống kính “prime” thường thường có phẩm chất ảnh tốt hơn và “sáng” hơn những ảnh được chụp bởi ống kính zoom. Hơn nữa, prime lens có khả năng lấy nét nhanh hơn zoom lens gấp bội.
- Một ống kính “zoom” có một tầm tiêu cự, bạn có thể thay đổi bằng cách xoay vòng trên nòng kính. Lợi điểm của zoom lens là sự tiện lợi vì bạn không cần phải thay đổi vị trí đứng hoặc thay ống kính khác.
Wide angle hoặc tele?
- Ống kính wide angle là ống kính nhìn rộng, thường thường có tiêu cự giữa 10 và 35mm. Những ống kính này thích hợp để chụp phong cảnh rộng lớn và chụp một nhóm người vì mình có thể gom vô rất nhiều trong khung hình.
- Ống kính tele thường thường có tiêu cự giữa 70 và 300mm. Tele có gốc từ tiếng Hy Lạp và có nghĩa là “ở xa” hoặc “khoảng cách xa”. Những ống kính này có ích để chụp ảnh thể thao hoặc thú hoang dã vì nó cho phép người chụp lấy ảnh gần của chủ thể trong khi vẫn có thể giữ khoảng cách an toàn từ xa.


Góc hình khu Sài Gòn Mall được chụp ở tiêu cự 18mm của ống kính Nikon zoom 18-200mm
Góc hình khu Sài Gòn Mall được chụp ở tiêu cự 18mm của ống kính Nikon zoom 18-200mm



Một góc của mặt tiền Sài Gòn Mall lúc zoom lại ở tiêu cự 200mm của ống kính 18-200mm, được chụp ở cùng một vị trí với hình trước
Một góc của mặt tiền Sài Gòn Mall lúc zoom lại ở tiêu cự 200mm của ống kính 18-200mm, được chụp ở cùng một vị trí với hình trước


Khẩu độ
Số f của ống kính là khẩu độ lớn nhất mà ống kính đó có thể hoạt động. Một số f càng thấp có nghĩa bạn có thể mở khẩu độ càng rộng để lấy ánh sáng càng nhiều, rất thực dụng cho việc chụp ảnh trong những tình trạng thiếu ánh sáng. Điều kiện này cũng cho phép bạn tạo trường cảnh (DOF) cạn để có được hậu cảnh thật mờ, rất lý tưởng cho loại ảnh chân dung và tĩnh vật.

Ống kính chân dung
Để chụp ảnh chân dung đẹp mắt, tốt nhất bạn nên dùng tiêu cự giữa 50 tới 135mm. Nếu dùng ống kính quá rộng (wide angle), ảnh của “người mẫu” sẽ bị vặn vẹo (bóp méo) và sẽ nhìn giống “quái thai”, không đẹp lắm. Một ống kính với số f thấp (khẩu độ lớn) sẽ rất có ích để giúp tạo ra trường cảnh cạn đủ để “xóa phông” (background) trong tấm ảnh.

Sự khác biệt giữa hai ống kính (16mm, và 200mm) trong việc chụp ảnh chân dung. Chú ý: 16mm làm cho mặt người trong hình bị méo mó.
Sự khác biệt giữa hai ống kính (16mm, và 200mm) trong việc chụp ảnh chân dung. Chú ý: 16mm làm cho mặt người trong hình bị méo mó.


Ống kính macro
Ống kính macro có khoảng cách lấy nét tối thiểu rất gần để cho bạn lấy nét rất cận với vật bạn muốn chụp, một điều mà những loại ống kính khác rất khó khăn làm được. Những ống kính chụp cận thường có tiêu cự độ chừng 60 ly, vậy bạn có thể dùng để chụp chân dung luôn, nhưng nó cũng khá đắt giá. Nếu bạn serious về nhiếp ảnh chụp cận, thì bạn có thể nghiên cứu thêm về chuyện mua những ống nối và kính lọc chụp gần.

Ống kính đặc chuyên
Bạn cũng có thể mua những ống kính đặc chuyên để thực hiện những cú shot với “ép phê” sáng tạo, mặc dù những ống kính này rất mắc tiền.
- Ống kính mắt cá (fisheye) sẽ cho bạn một khía cạnh cực-rộng, cố ý bóp méo những cảnh vật trước mắt bạn. Loại ống kính này đôi khi được dùng để chụp trong nhà và ảnh kiến trúc vì nó có thể thu góp rất nhiều vào một khung.
- Loại ống kính bẻ cổ (tilt shift) thật sự có thể được “bẻ” quẹo để tránh trường hợp bị vặn vẹo khi chụp ảnh ở những góc cạnh rộng. Những ống kính này được dùng trong thể loại nhiếp ảnh kiến trúc để bảo đảm có được những đường thẳng tuyệt đối.


Một ống kính đặc chuyên về tilt shift của hãng Samyang.
Một ống kính đặc chuyên về tilt shift của hãng Samyang.


Như các bạn đã được thấy, thế giới ống kính rất bao la, và có hàng trăm hoặc hàng ngàn sản phẩm với nhiều chức năng riêng biệt để bạn chọn lựa. Một điều nên lưu ý là chỉ có loại máy ảnh DSLR mới có khả năng thay ống kính. Những loại máy ảnh bỏ túi không thể làm được điều này và bị giới hạn nặng nề với chỉ một ống kính suốt đời.

Những góc cạnh khác nhau của tòa building, được thực hiện bởi một ống kính tilt-shift, tùy theo độ bẻ của ống kính.
Những góc cạnh khác nhau của tòa building, được thực hiện bởi một ống kính tilt-shift, tùy theo độ bẻ của ống kính.

Ống kính: Tiêu cự nào? Chụp gì?

Bài này đọc thấy trên trang: http://vinacamera.com/?p=2747 Già mang về để dành và chia sẻ với các bạn thay cho những giải thích lập đi, lập lại. Hi vọng có thể có ích với những bạn mê chụp hình khi  muốn đầu tư vào lens(ống kính)rời :)
Già có tag một số bạn bè vào bài viết này, sót ai hay ai không thích được tag thì cho Già xin lỗi, hãy nhắn riêng để Già add thêm(hoặc remove để bạn khỏi phiền). Vậy đi nhé...

Tiêu cự của ống kính được biểu diễn bàng giá trị mi-li-mét (mm) trên thân mỗi ống kính. Mỗi ống kính đều nằm trong một dải tiêu cự nhất định phục vụ các mục đích chụp ảnh nhất định, và khác nhau. Để giúp người chơi ảnh hình dung được nên sử dụng hoặc mua sắm ống kính thuộc dải tiêu cự nào, VinaCamera.com có bảng tổng hợp dải tiêu cự và các mục đích sử dụng để độc giả biết được những điều này.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa


Bài viết cũng nhằm trả lời rất rất nhiều câu hỏi mà độc giả đã gửi tới VinaCamera.com với nội dung phổ biến là: “Tôi muốn chụp ảnh loại này, loại kia… thì nên mua ống kính tiêu cự nào?”
ĐÔI ĐIỀU VỀ TIÊU CỰ ỐNG KÍNH
  • Tiêu cự ngắn cho góc ảnh rộng hơn, thu được “nhiều thứ” vào hình ảnh hơn. Ngược lại, tiêu cự càng dài thì góc ảnh càng hẹp, thu được “ít thứ” vào khuôn hình hơn. Tuy nhiên, tiêu cự dài lại giúp người chụp đứng từ xa – và rất xa với tiêu cự rất dài – chụp cận cảnh (phóng to) chủ thể muốn chụp mà không phải tiến lại gần chủ thể (hoặc không thể tiến lại gần chủ thể do một lý do nào đó).
  • Sử dụng tiêu cự dài ngắn thế nào không những ảnh hưởng tới việc “lấy được bao nhiêu thứ” vào khuôn hình, mà còn đóng vai trò quan trọng trong tính nghệ thuật của bức ảnh, đặc biệt trong việc “quản lý” hậu cảnh đằng sau chủ thể chính cửa bức ảnh. Với dân chuyên nghiệp hay người chơi ảnh ở đẳng cấp cao, quản lý hậu cảnh chính là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc tạo ra bố cục – tính nghệ thuật – của một bức ảnh.
  • Một bức ảnh có hậu cảnh rộng lớn (sử dụng ống kính tiêu cự ngắn) có thể nói cho người xem biết nhiều điều về môi trường, cảnh quan và hoàn cảnh của chủ thể chính, nhưng ngược lại, nếu sử dụng không khéo, có thể làm người xem mất tập trung vào chủ thể chính bởi các chi tiết thừa, khiến chủ thể chính bị lu mờ và không đem lại ấn tượng mạnh cho chủ thể.
  • Tiêu cự dài – với góc ảnh hẹp – giúp tập trung sự chú ý của người xem vào chủ thể chính bằng cách loại bỏ bớt chi tiết xung quanh chủ thể ở hậu cảnh, nhưng cũng có thể làm mất đi yếu tố hoàn cảnh xung quanh của chủ thể, khiến chủ thể “cô độc” và mất đi ý nghĩa liên kết giữa các yếu tố có thể cần thiết trong bức ảnh.
  • Với chụp chân dung, người chụp sẽ cần lựa chọn tiêu cự phù hợp cho thể loại chân dung của mình như chân dung đặc tả, hay chân dung “môi trường” – tức thể loại chân dung chụp người trong bối cảnh môi trường sinh sống, làm việc hay đơn giản là môi trường xung quanh người đó vào thời điểm chụp ảnh. Chọn đúng tiêu cự cũng giúp tạo ra các điểm thú vị của bức ảnh như phóng đại một yếu tố nào đó của chủ thể (ví dụ: chân dài), hay làm giảm các đặc điểm không mong muốn (ví dụ: mặt quá béo, múi quá cao, v.v…)
Mặc dù trong thực tế, sáng tạo là hoàn toàn không có giới hạn, và trên lý thuyết người chơi ảnh có thể sử dụng bất kỳ tiêu cự nào để chụp bất cứ thể loại ảnh nào tùy vào sáng tạo riêng của từng “tay máy”, có những dải tiêu cự được phục vụ mục đích này nhiều hơn mục đích khác, ví dụ các ống kính góc siêu rộng thường được sử dụng để chụp phong cảnh rộng lớn hay các công trình kiến trúc, cũng như các ống kính tiêu cự trong khoảng 85-135mm thường được sử dụng để chụp chân dung cận cảnh. Bảng sau sẽ cho biết mục đích sử dụng chung nhất, phổ biến nhất của các dải tiêu cự.


Bảng mô tả căn bản
Bảng mô tả căn bản


MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG THÔNG THƯỜNG CỦA CÁC DẢI TIÊU CỰ

(1) Phong cảnh rộng
(2) Phong cảnh hẹp, cận cảnh
(3) Nội thất, kiến trúc
(4) Nhóm đông người
(5) Nhóm ít người
(6) Du lịch, Tổng hợp
(7) Chân dung môi trường
(8) Chân dung toàn thân, bán thân
(9) Chân dung cận cảnh, đăc tả khuôn mặt
(10) Chim, thú, động vật hoang dã

(*) Vi vật, hoa lá
(**) Côn trùng, ong bướm
(***) Sản phẩm, thực phẩm
Khi tính toán dải tiêu cự phù hợp, người chơi ảnh cũng nên đưa vào tính toán định dạng cảm biến của máy ảnh cụ thể đang sử dụng: Định dạng cảm biến toàn khổ FX (tương đương với bản phim 35mm) và định dạng cảm biến crop (cúp nhỏ) DX theo từng hãng, ví dụ DX Nikon có hệ số 1.5x, Crop Canon có hệ số 1.6x – bằng cách nhân tiêu cự được ghi trên ống kính (dù là ống sản xuất dành cho cảm biến toàn khổ hay cảm biến cúp nhỏ đều được tính như nhau) để biết được tiêu cự qui đổi tương đương toàn khổ (tức tương đương bản phim 35mm).
VinaCamera.com khuyến khích bạn thử nghiệm với các dải tiêu cự này theo bảng trên, đồng thời cũng thử nghiệm “phá cách” khác với cách sử dụng thông thường nêu trong bảng ở các thể loại ảnh mà một dải tiêu cự thường không được sử dụng với mục đích thông thường đó để có thể tạo ra những bức ảnh sáng tạo, độc đáo và mang phong cách riêng của từng người.
GIA VỊ
Nên chọn ống có zoom hay không zoom?
Ỗng có zoom
Ống kính có zoom là các ống kính cho phép thay đổi tiêu cự của ống kính bằng cách zoom ra góc rộng hơn và zoom vào góc hẹp hơn để dễ dàng từ một vị trí đứng chụp có thể mở rộng hoặc thu hẹp góc chụp, lấy vào khuôn hình nhiều hay ít cảnh vật. Thật là tiện lợi phải không nào? Tuy nhiên, cái gì cũng có giá của nó! Các ống zoom, do phải bố trí một hệ thống phức tạp các thấu kinh bên trong, cộng với cơ chế giúp có thể zoom ra vào, thường có xu hướng làm giảm chất lượng hình ảnh (như cầu sai/ méo hình, sắc sai, v.v…). Ống càng có khả năng zoom được lớn (chênh lệch lớn giữa tiêu cự ngắn nhất và tiêu cự dài nhất) thì khả năng là chất lượng càng bị giảm sút, đặc biệt với các ống zoom giá rẻ như các ống KIT bán kèm máy. Để có được các ống zoom chất lượng cao, người chơi sẽ phải bỏ ra rất nhiều tiền, và thường các ống loại “khét tiếng” này cũng chỉ có khả năng zoom được ít (tỷ lệ zoom chỉ ở 3 đến 4 lần) như các ống 24-70mm (zoom ~3 lần), 70-200mm (zoom ~3 lần). Các ống zoom lớn như 18-270mm (15 lần) hay 18-300mm (gần 17 lần) thường có chất lượng ảnh không mấy ấn tượng, nhất là ở các tiêu cự dài và rất hay bị méo hình ở tiêu cự ngắn nhất, và hoàn toàn không thể đáp ứng được chất lượng ảnh chuyên nghiệp. Tuy nhiên, các ống này lại đem lại sự tiện dụng, chụp đa năng, rất phù hợp với người chơi ảnh gia đình, du lịch. Các ống zoom lớn cũng giúp người chơi ảnh không phải mang vác nhiều ống kính cùng lúc, và tránh được các công việc “đầy rủi ro” như phải tháo lắp thay ống kính trong khi chụp.
Ống không có zoom (ống tiêu cự cố định/ một tiêu cự / ống fix)
Ống kính chỉ có 1 tiêu cự , và tất nhiên không thể zoom, trong tiếng Anh gọi là các ống prime hay fixed (cố định). Yếu điểm của các ống này là chỉ có một tiêu cự nên khi muốn cúp hình chặt hơn, hay muốn mở rộng góc chụp, người chụp phải di chuyển máy gần lại hoặc ra xa chủ thể muốn chụp, tức là phải tiến lùi bằng chân (zoom bằng chân theo cách gọi vui). Điều này là hết sức bất tiện trong nhiều trường hợp không thể tiến lùi gần xa hơn nữa tới chủ thể, cũng như làm người chụp mệt nhoài tiến lùi, và có thể phải thay ra, đổi vào nhiều ống kính khác nhau, dễ gặp rủi ro lớn như đánh rơi ống, bụi vào ống (và máy) khi chụp ngoại cảnh. NHƯNG ĐỔI LẠI, các ống tiêu cự cố định lại cho hình ảnh luôn sắc nét, chất lượng cao, các chỉ số cầu sai, sắc sai rất thấp, và thường có giá bán rẻ hơn so với các ống zoom cùng chức năng. Sở dĩ như vậy là do chỉ có một tiêu cự nên hệ thống thấu kính đơn giản hơn, không phải bố trí các thấu kính phục vụ mục đích zoom làm cho rủi ro sai số thấp hơn, kiểm soát tốt hơn chất lượng hình ảnh về mọi mắt, cũng như góp phần làm giảm giá thành của ống kính. Các ống kính tiêu cự cố định còn có đặc điểm là gọn nhẹ, nhỏ xinh giúp người chơi ảnh không phải mỏi tay bê vác nặng và tránh được nhiều tò mò chú ý của người xung quanh trong những trường hợp cần như vậy.
Vậy nên chơi ống có zoom hay không zoom?
Tùy bạn thôi. Bạn sẽ phải luôn thỏa hiệp giữa các yếu tố chất lượng, giá cả, mức độ tiện dụng (đa năng hay gọn nhẹ) và nhiều yếu tố phi nhiếp ảnh khác đi kèm với một ống kính nhất định.
Qua nhiều năm “chơi ảnh”, VinaCamera.com rút ra một qui luật bất thành văn thường xảy ra với người chơi ảnh như sau:
1. Mới chơi: Ống KIT, ống zoom dài với dải tiêu cự lớn, tiện dụng. Đây là những người chơi có vẻ bề ngoài “khủng” trong đám đông thường thấy ở các tụ điểm du lịch.
2. Chơi cũng đã lâu lâu: Ống một tiêu cự cố định, cho chất lượng hình ảnh tuyệt vời, nhưng làm người chơi mệt mỏi. Đây là hình ảnh của những người chơi miệt mài, có phần cô đơn, lặng lẽ giữa cuộc đời, hình ảnh “lọ mọ” lùi ra xa, tiến lại gần và đôi khi bị đám đông coi là “nghèo, đẳng cấp kém” do chỉ thấy những chiếc ống nhỏ xinh gắn trên thân máy. Họ không biết được đây là những người chơi sành điệu, chỉ có trong “giới” với nhau mới đánh giá hết… Dù sao, hãy thông cảm với họ, cả người chơi và đám đông kia.
3. Chơi có nghề, chơi chuyên nghiệp, và chuyên nghiệp: Ống gì cũng chơi, zoom, fix, KIT, cũ, mới,… Đây là những người chơi – và nhiều khi không còn là chơi mà là nghiệp, đôi khi “chướng” – hiểu được tất cả mọi giá trị của từng loại ống kính, biết cách sử dụng phù hợp từng loại trong mọi hoàn cảnh. Hình ảnh của họ như thế nào? Có lẽ họ là những người không cần xây dựng hình ảnh trong con mắt của đám đông nữa. Họ chơi vì họ, vì cái nghệ thuật và niềm đam mê riêng, hay đơn giản là vì nghề kiếm ăn của họ nó phải thế. Họ có thể cầm trên tay một ống kính giá rẻ đến bất ngờ, cũng có thể chọn ra trong tủ ống kính khủng với hàng chục chiếc ống của họ một ống kính (mà nói ra nhiều người ngỡ ngàng bởi giá tiền cao chót vót) khi xuất hiện trong một buổi chụp hình thời trang chuyên nghiệp, hay một cuộc dã ngoại chụp ảnh… vài thứ linh tinh chả ai thèm để ý tới.
Vậy nếu bạn có tình cờ nhìn thấy trên đường phố một người nào đó cầm chiếc máy ảnh với một ống kính nhỏ xinh 35mm đang cắm cúi chụp ảnh đám đông thì cũng đừng nên vội đánh giá, cũng như cũng không nên choáng ngợp và mất tinh thân bởi những chiếc ống to và dài của một khách du lịch đi theo đoàn bên cạnh bạn.
Xét cho cùng, bạn chơi ảnh chứ đâu phải chơi cái ống kính. Và ống kính loại tiêu cự nào cũng đều có thể cho ra đời những bức ảnh tuyệt đẹp!

VinaCamera.com
2008-2013

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Chụp ảnh hoàng hôn(lược dịch)

Cùng các bạn yêu nhiếp ảnh: Già tui cố gắng chia sẻ tình yêu này với các bạn bằng những tài liệu sưu tầm trên net hay kinh nghiệm ngớ ngẩn của bản thân, mong được các bạn"professional cameraman" lượng thứ và đóng góp ý kiến bổ sung nhé.

Bài này lược dịch từ website: http://www.picturecorrect.com/tips/sunset-photography-tips-techniques/
Có vẻ như tất cả mọi người đều yêu thích nhìn hoàng hôn tuyệt đẹp, và có lẽ đó là lý do tại sao nhiếp ảnh hoàng hôn là một sự cạnh tranh tuyệt vời như vậy. Chúng ta hãy xem xét một số kỹ thuật đơn giản sẽ giúp bạn chụp hình ảnh hoàng hôn thật sự ấn tượng, theo kiểu chúng ta sẽ đứng ra khỏi đám đông :)

Nguyên tắc 1: Bảo vệ mắt và máy ảnh của bạn

Lưu ý, sẽ là mối nguy hiểm cho đôi mắt của bạn và cảm biến(sensor)trongmáy ảnh của bạn nếu hướng mắt và máy ảnh của bạn trực tiếp vào một mặt trời màu vàng sáng. Sử dụng một ống kính dài hoặc zoom quang học sẽ phóng đại các tác hại thêm lên. Hãy giữ an toàn và có được hình ảnh tốt hơn bằng cách chờ đợi cho đến khi mặt trời đang chìm dưới đường chân trời hay là một màu đỏ sẫm.

“Sunset Dandelion” captured by Michael Edminster
“Sunset Dandelion” captured by Michael Edminster

Nguyên tắc 2: Nắm bắt màu sắc chuẩn

Khi bạn chạy ra khỏi cửa để chụp ảnh hoàng hôn rực rỡ, nhưng sau đó sau khi tải lên máy tính của bạn tự hỏi điều gì đã xảy ra với những biến thái sắc màu của bức ảnh? Thường thủ phạm chính là chức năng cân bằng trắng tự động của máy ảnh. Trong khi mắt con người của bạn đánh giá cao những rực rỡ màu vàng hoàng hôn , cam, đỏ tươi và xanh thì tính năng cân bằng trắng tự động của máy ảnh cố gắng để sửa chữa chúng theo kiểu rất ngớ ngẩn :)

Các giải pháp rất đơn giản ...

Nếu bạn đã cài đặt sử dụng, tắt cân bằng trắng tự động , và sau đó thiết lập cân bằng trắng đến bên ấm áp(Ví dụ chọn WB là ánh đèn tròn).
Nếu máy ảnh của bạn có một thiết lập ống kính màu hoặc bạn đang chụp với một máy ảnh SLR hay DSLR , hãy thử một số bức ảnh với các bộ lọc màu đỏ được lựa chọn hoặc đính kèm.
Sử dụng một phương pháp an toàn mà không cung cấp các thiết lập bằng tay ? Giải pháp thực sự đơn giản ở đây: đặt nó vào chế độ hoàng hôn, hoặc bình minh cũng tương tự . Chế độ hoàng hôn tự động cài đặt cân bằng trắng để giữ ấm trong sự thay đổi cân bằng màu sắc của nó . Chế độ hoàng hôn cũng giúp máy ảnh tự động sử dụng tập trung tốt nhất  cho chất lượng hình ảnh .
Không có những điều kể trên ? Đành phải sử dụng chế độ tự động hoặc phong cảnh, và sau đó sử dụng một trình biên tập ảnh để điều chỉnh cân bằng trắng để phản ánh màu sắc rực rỡ thực sự như bạn biết ở đó.

“Kristina” captured by Irina Oreshina
“Kristina” captured by Irina Oreshina

Bạn cũng có thể muốn thử nghiệm với các thiết lập phơi sáng khác nhau hoặc sử dụng trình biên tập ảnh của bạn để làm tối hoặc sáng hơn theo ý muốn. Hãy chắc chắn để thực hiện thay đổi trên bản sao, không phải là bản gốc!
Thường là một tốc độ màn trập chậm hơn sẽ chụp cảnh hoàng hôn tốt hơn, trong trường hợp này, một chân máy.
Quy tắc 3: Chụp Thành phần tốt nhất

Sử dụng kỹ thuật chụp ảnh phong cảnh cơ bản và sự kiên nhẫn sẽ tạo ra hình ảnh hoàng hôn tuyệt đẹp.
Không phải tất cả những buổi hoàng hôn đều giống nhau, nhưng để có được một bức ảnh hoàng hôn đáng chú ý, bạn cần có một hoàng hôn độc đáo. Những đám mây hầu như luôn luôn làm cho cảnh hoàng hôn ấn tượng hơn...

“Meteor Strike” captured by David Hobcote
“Meteor Strike” captured by David Hobcote

Hãy cho phép bản thân có thời gian để ngắm mặt trời lặn và chờ đợi cho đến khi có được các bức ảnh thực sự đẹp.
Chụp ảnh hoàng hôn cần ráng tránh các thành phần, chẳng hạn như đường dây điện và các tòa nhà (trừ khi tòa nhà được phục vụ như là một tâm điểm cho ảnh của bạn :)
Chọn lọc bối cảnh và quy mô bằng cách chuẩn bị cho bức ảnh của bạn với một cái gì đó ở phía trước như lòng bàn tay in bóng , một cây thông đơn độc, một chiếc thuyền , một người ... Hoàng hôn sẽ hầu như luôn luôn tạo ra các bóng , do đó thêm nhiều ấn tượng thú vị hơn cho những tấm ảnh hoàng hôn của bạn.
Nếu bầu trời là một phần ấn tượng nhất của hoàng hôn , hãy tính sao để cho hai phần ba khung ảnh là bầu trời của bạn. Nếu sự phản chiếu trên mặt nước và bóng là phần quyến rũ nhất của những hình ảnh này cho hai phần ba số  chi tiết ấy vào khung ảnh.
Hãy đi đến một bãi biển nơi bạn sẽ tìm thấy nhiều hình ảnh hoàng hôn tốt nhất . Ở đây bạn có thể nhìn thấy mặt trời lặn trên đường chân trời , và hình ảnh của bạn cũng sẽ nhận được những lợi ích của các phản xạ đầy màu sắc từ mặt nước biển. Những địa điểm tốt khác bao gồm sa mạc và thảo nguyên , nơi bạn cũng có thể thường xuyên nhìn thấy đường chân trời và nơi bụi thêm trong không khí làm tăng thêm màu sắc.

(Có lẽ)đây là tất cả những gì các bạn cần cho sự thành công trong nhiếp ảnh hoàng hôn. Hãy bắt đầu sử dụng những lời khuyên này và bạn sẽ có niềm vui đến ngạc nhiên khi thấy những hình ảnh hoàng hôn tuyệt đẹp , mà bạn sẽ nắm bắt được .
Nguồn từ website:http://www.picturecorrect.com/tips/sunset-photography-tips-techniques/

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013

Có thể bạn quan tâm...

Nguồn: Các tạp chí chuyên ngành CNTT

1/ Hơn 2 triệu tài khoản người dùng đang bị tin tặc kiểm soát!
Trong một thông báo đầy bất ngờ, bộ phận bảo mật SpiderLabs của hãng Trustwave (có trụ sở ở nhiều quốc gia trên thế giới) vừa tiết lộ rằng hiện tại tin tặc đang kiểm soát hơn 2 triệu tài khoản của người dùng toàn cầu.
CNET hôm 4.12 dẫn lại thông báo của Trustwave cho biết, cụ thể tin tặc đang nắm giữ được khoảng 1,58 triệu mật khẩu và tài khoản của người dùng thông qua các dịch vụ nền web (trong đó có khoảng 318.121 tài khoản của Facebook; 21.708 tài khoản của Twitter; 54.437 tài khoản của Google; 59.549 tài khoản Yahoo...).
Bên cạnh đó, tin tặc cũng đang nắm giữ khoảng 320.000 tài khoản từ các dịch vụ email khác nhau, 41.000 tài khoản của dịch vụ FTP, 3.000 tài khoản thông qua các chương trình đánh cắp từ xa và khoảng 3.000 tài khoản ngân hàng.
Cũng theo Trustwave, số lượng người dùng bị đánh cắp tài khoản có tỷ lệ cao nhất là ở Hà Lan, tiếp theo sau là Thái Lan, Đức, Singapore và Indonesia.
Các chuyên gia bảo mật cho biết, việc tin tặc đang nắm giữ một số lượng lớn tài khoản người dùng rất dễ cho tin tặc sử dụng các tài khoản này làm thành một mạng lớn botnet cực lớn hoặc làm gián điệp, chưa kể mọi thông tin liên quan đến người dùng trong tài khoản cũng đã không còn an toàn.
Cuộc điều cho ban đầu cho thấy, đa số tài khoản bị đánh cắp một phần lỗi là nằm ở người dùng sử dung mật khẩu quản trị quá đơn giản, thường chỉ là 123456, 123456789, 1234, hay đơn giản chỉ là chữ password.
Thành Luân

2/ Kiểm tra độ an toàn của mật khẩu

Trước thực trạng có rất nhiều hãng bảo mật đưa ra các thông báo nói rằng hiện nay tin tặc đang nắm giữ được một lượng lớn tài khoản của người dùng, các nhà lập trình của Microsoft đã triển khai một dự án có khả năng tiên đoán được mật khẩu để từ đó người dùng có thể thấy mật khẩu của mình dễ đoán hay không.


Giao diện làm việc của trang Telepathwords - Ảnh chụp màn hình
Ảnh trang web test Password
Ảnh trang web test Password


Theo Neowin ngày 8.12, cụ thể dự án mà Microsoft triển khai có tên gọi là Telepathwords (hoạt động tại địa chỉ telepathwords.research.microsoft.com), có khả năng phân tích trước và đánh giá được mật khẩu người dùng đang sử dụng có an toàn hay không.
Để sử dụng, người dùng chỉ cần truy cập vào trang web sau đó gõ mật khẩu mình đang sử dụng vào. Nếu mật khẩu đang dùng đạt đủ 5 dấu "v" là an toàn, nếu không đủ mà chỉ nhận được nhiều dấu "x" thì Microsoft khuyến cáo nên thay đổi lại mật khẩu đang dùng ngay lập tức.
Điểm đặc biệt của Telepathwords là nó có khả năng phân tích được trước hành vi nhập mật khẩu của người dùng.
Cụ thể, nếu mật khẩu bạn đang dùng là từ password, thì ngay khi vừa nhập chữ "pa" là trang web sẽ gợi ý ra được mật khẩu sắp nhập đầy đủ có thể là password. Như thế, tin tặc cũng có thể đoán biết được mật khẩu người dùng là gì.
Microsoft cho biết, Telepathwords sử dụng các thuật toán phân tích dự đoán mật khẩu vô cùng phức tạp, và nếu người dùng thử gõ mật khẩu của mình vào một nửa mà Telepathwords cũng có thể đoán ra được thì nên thay đổi mật khẩu ngay lập tức.

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013

Nắm vững cách sử dụng máy ảnh số thông qua các chế độ chụp

Nguồn bài viết này: Ở đây



Khi sử dụng máy ảnh kỹ thuật số, có những ký tự đại diện cho chế độ chụp như B, A, P, Tv...nếu chưa nắm rõ có thể bạn sẽ lúng túng và khó khăn trong việc sử dụng, bài viết liệt kê một số chế độ chụp giúp người dùng tham khảo để điều khiển tốt hơn chiếc camera của mình

Khái niệm APERTURE : Khẩu độ hay độ mở màn trập (ống kính)

Trong ống kính máy ảnh có một cơ quan gọi là màn trập, cơ quan này bao gồm nhiều tấm thép xếp chồng lên nhau để điều tiết độ mở lớn hay nhỏ của ống kính nhằm cho phép ánh sáng vào máy nhiều hay ít, vai trò như mí mắt của người.




Giá trị của khẩu độ được đo bằng trị số f (có thể thể hiện theo ba cách như f/8, F8 hay 1:8), trị số f càng nhỏ ví dụ f/2, f/2,8… thì độ mở màn trập càng lớn, ánh sáng càng tiếp xúc nhiều hơn với phim, sensor máy ảnh.

Dãy số trị số của khẩu độ f/2, f/2.8, f/4, f/5.6,f/8,f/11….có ý nghĩa là cứ tăng lên một giá trị trong dãy thì màn trập mở nhỏ hơn và lượng ánh sáng đi qua ống kính sẽ giảm đi một nửa.


1. APERTURE PRIORITY: Chế độ chụp ưu tiên khẩu độ.



Ký hiệu thường dùng trên vòng xoay chỉnh chế độ là A (Nikon,Panasonic,Lumix..) hoặc là Av (Canon,Pentax…)

Khi thiết lập máy ảnh ở A hay Av mode người dùng tự chọn độ mở màn trập, thông số tốc độ màn trập (Shutter speed) do máy kiểm soát. Chế độ này đặc biệt quan trọng khi người muốn kiểm soát khoảng nét hay còn gọi là chiều sâu của bức ảnh.

Ví dụ:
Trong chụp ảnh phong cảnh thiết lập A, Av mode điều chỉnh độ mở nhỏ f/11, f/16 để ảnh có chiều sâu, có độ sắc nét của các chi tiết tiền cảnh lẫn hậu cảnh.




Trong chụp ảnh chân dung,ảnh chụp cận cảnh macro thiết lập A, Av mode, điều chỉnh độ mở lớn f/2, f/2.8 để làm mờ, nhòe đi cảnh nền phía sau giúp đối tượng chụp nổi bật hơn lên.


Khái niệm SHUTTER SPEED: Tốc độ trập

Đây là trị số tính bằng giây quy định khoảng thời gian cửa trập mở ra để lấy sáng, càng mở lâu thì ánh sáng vào tiếp xúc với phim hay sensor càng nhiều và ngược lại.

Dãy trị số của tốc độ trập ....1/4s, 1/8s,1/15s,1/30s,1/60s... có ý nghĩa cứ lên một cấp thì cửa trập đóng lại nhanh hơn và lượng ánh sáng đi qua ống kính giảm đi một nửa, và như vậy với tốc độ đóng cửa trập càng nhanh thì ảnh càng tăng nguy cơ bị thiếu sáng và ngược lại.

2. SHUTTER SPEED PRIORITY MODE: Chế độ chụp ưu tiên tốc độ trập



Ký hiệu thường dùng trên vòng xoay chỉnh chế độ là Tv = Time value hay S = Shutter

Việc có thể chọn lựa tốc độ đóng cửa trập giúp bạn chụp được những tấm hình chuyển động mà không bị mờ nét chẳng hạn dùng tốc độ đóng nhanh 1/500s, 1/2000s để bắt đứng sự chuyển động của nước, khiến có cảm giác như dòng nước bị đông cứng lại thấy rõ từng hạt nước



Hình minh họa: Dùng đá ném xuống nước và thiết lập Tv = 1/400s thấy rõ các hạt của tia nước bắn lên không trung

Theo chiều ngược lại, dùng tốc độ trập chậm trong kỹ thuật chụp phơi sáng có thể tạo ra hiệu ứng làm nhòe chuyển động khiến vật thể chuyển động tạo vệt mờ.


Hình minh họa dùng tốc độ Tv = 1/2s khiến dòng nước chảy nhòe đi trông như một bức tranh vẽ.

3. PROGRAM : Chế độ chụp chương trình

Ký hiệu trên vòng chỉnh chế độ là P.


Ở chế độ này máy ảnh sẽ đảm nhận xử lý phần tốc độ trập (shutter) và khẩu độ trập (aperture) đã nêu ở trên. Khi chỉnh về P mode, bạn có thể thiết lập những thông số như độ cân bằng trắng, tắt hay mở đèn Flash, sử dụng độ nhạy sáng ISO ở mức nào, phần phơi sáng thông qua hai trị số f và s để cho máy tự chọn (auto).

Chế độ chụp này rất tốt cho người mới bắt đầu chụp, bạn để P mode và không cần phải lo lắng đủ sáng hay không để tập trung vào chủ đề, bố cục,nó đặc biệt hữu dụng khi bạn chụp cảnh ở ngoài trời với ánh sáng tốt.

Trong những trường hợp ánh sáng không được tốt lắm, có khả năng ảnh của bạn sẽ bị mờ khi chụp ở P mode vì máy ảnh tự động chọn chụp với tốc độ chậm, khi đó bạn phải chụp với chân máy (tripod) còn nếu không có chân máy thì bạn chỉnh ISO lên cao (tầm 400) kết hợp với bật đèn Flash khi chụp, chú ý là sử dụng Flash không nên đứng quá xa (tối đa 4m) so với đối tượng chụp.


4. MANUAL : Chế độ chụp chỉnh tay

Đây là chế độ cuối trong bộ tứ 4 chế độ chính của máy ảnh P-S-A-M, trên vòng xoay chỉnh có ký hiệu là M



Khi bạn đã hiểu và nắm được A mode và S mode thì bạn đã hoàn toàn có thể chỉnh về Manual Mode để chụp trong những trường hợp A,S mode không đáp ứng được mong muốn.

Manual mode cho phép người chụp hoàn toàn tự do chỉnh các thông số kỹ thuật, trị số s, f, lấy net, chỉnh ISO, cân bằng trắng, thiết lập Flash on hay off....chính vì thế nó không dành cho người mới đến với nhiếp ảnh.



Tấm ảnh hoa minh họa được chụp trong bối cảnh hoa được chiếu sáng bởi ánh sáng mặt trời nhưng hậu cảnh nền lại là một vùng bóng râm. Nếu chụp ở chế độ bán tự động, máy ảnh nhiều khả năng sẽ ưu tiên vùng sáng cho hậu cảnh thay vì chủ thể chính, nếu bạn để khẩu độ mở nhỏ để giảm sáng thì ảnh ko đạt yêu cầu, lúc này bạn phải cần có Manual mode để chỉnh tay tất cả nhằm đạt tấm ảnh như ý.Ngoài các chế độ chụp chính, chúng ta còn có thể bắt gặp những chế độ chụp khác tùy theo sự sáng tạo, sự phân loại riêng của các nhà sản xuất máy ảnh (Sony,Nikon,Canon...) trong đó:

ISO PRIORITY : chụp ưu tiên độ nhạy sáng :

khái niệm ISO: ISO là cách mà bộ cảm biến của máy ảnh nhạy cảm với ánh sáng, giá trị thường gặp 100,200,400,800,1600...



Giá trị ISO càng thấp, hình ảnh chi tiết hơn nhưng cảm biến ít nhạy cảm hơn với ánh sáng và ngược lại. Với ánh sáng ban ngày ngoài trời bạn đặt ISO thấp 100,200 để hình ảnh chất lượng hơn, trời u ám, mờ tối chụp với ISO 400,800, chụp ban đêm phải để ISO ở tầm 1600 mới đủ sáng các chi tiết dù hình ảnh tăng khả năng bị nhiễu, hạt. Nếu muốn giữ chất lượng hình bạn nên cố gắng để ISO thấp + kết hợp Flash để chụp trong đêm nhưng Flash thường gây lóe sáng không mong muốn trên chủ đề.

Một tấm ảnh chụp hồ cá thủy cung trong điều kiện ánh sáng yếu, tác giả không dùng Flash và để ISO ở 1600


Ký hiệu của ISO priority mode là Sv trên máy ảnh của Pentax, Sv mode cho bạn chọn trước độ nhạy sáng ISO, các thông số tốc độ, khẩu độ do máy auto. Còn thiết lập P mode thì máy quyết định cả 3 thông số.

Trên máy khác như Nikon, Canon Sv mode chính là Program mode + chỉnh tay độ nhạy sáng ISO.


CHẾ ĐỘ CHỤP TAv

Chế độ chụp này cho phép bạn chỉnh tay 2 thông số tốc độ và khẩu độ, máy sẽ tự động dò tìm một mức ISO phù hợp, chế độ này tìm thấy trên một số máy ảnh Pentax. Ở các máy khác bạn sử dụng TAv mode bằng cách chọn Manual mode sau đó chọn thiết lập ISO tự động.


TAv mode hữu ích hơn Manual mode trong một số tình huống nhất định, chẳng hạn bạn chụp sân khấu, sân được chiếu sáng bởi nhiều nguồn sáng khác nhau, ánh sáng thay đổi liên tục và bạn cần chụp hàng loạt tấm hình, ISO tự động theo từng thời điểm chụp trong TAv mode sẽ giúp bạn xử lý trường hợp này tốt hơn.

CHẾ ĐỘ CHỤP DEP

Khái niệm DEP: DEP = DEPth of field (Độ sâu trường ảnh) còn gọi là DOF

Mỗi ống kính máy ảnh chỉ có khả năng chụp được vật thể một cách sắc nét trong một vùng nhất định, vùng rõ nét này gọi là độ sâu trường



Trong hình minh họa, hình ảnh con bướm bay quá gần ống kính hay quá xa sẽ bị mờ vì nó không nằm trong "Độ sâu trường" của ống kính máy ảnh này.

Độ sâu trường phụ thuộc máy ảnh và cách chọn khẩu độ, khoảng lấy nét (là khoảng cách từ ống kính đến vật cần lấy nét = chủ thể chụp).

Trị số khẩu độ càng nhỏ f/2, f/2.8 ống kính mở càng rộng, khoảng lấy nét càng ngắn thì vùng rõ nét (độ sâu trường) càng nhỏ (nông), trong
hình minh họa mở khẩu độ lớn --> vùng rõ nét ngắn tập trung hoàn toàn lên con vật khiến hậu cảnh xung quanh mờ nhòe giúp người xem ảnh tập trung vào chủ thể chính.



Khi khẩu độ ống kính mở càng nhỏ ( tri số lớn f.11, f/16) thì vùng rõ nét DOF càng rộng thích hợp cho chụp ảnh phong cảnh, hình minh họa có DOF lớn nên rõ nét các chi tiết cả ở gần lẫn ở xa khiến tấm ảnh có chiều sâu.



DEP mode là chế độ thấy trên một số dòng máy của Canon: khi bạn thiết lập ở DEP mode, bạn hướng ổng kính vào chủ thể gần nhất muốn đặt trong vùng rõ nét (DOF) và nhấn nhẹ nút chụp sau đó hướng ống kính vào chủ thể xa nhất muốn đặt trong DOF rồi nhấn tiếp nửa còn lại của nút chụp --> máy tính sẽ tính toán muốn có vùng rõ nét này thì trị số khẩu độ phải đặt ở bao nhiêu.

CHẾ ĐỘ CHỤP A-DEP



Canon còn cung cấp thêm một chế độ chụp nữa gọi là A-DEP: Chế độ này cho phép bạn để máy ảnh tự động chọn vùng rõ nét (DOF) cho chủ đề chụp để hỗ trợ những tay máy yếu kỹ thuật, tuy nhiên do cách xác định quá đơn giản của máy, chế độ này hầu như không giúp được gì cho người chụp.

CHẾ ĐỘ CHỤP C1, C2, C3...

* Đây là chế độ Custom cho bạn lưu sẵn các thông số kỹ thuật vào để xài mỗi khi cần chẳng hạn bạn lập:

C1 = Av mode, f/11, ISO 100,... dành cho chụp phong cảnh
C2 = S mode, 1/200s, ISO200,...lập sẵn cho chụp cảnh thể thao

Tùy máy bạn có thể có thêm những thiết lập cấp nhỏ hơn nữa ví dụ như lập sẵn C2.1 để chụp thể thao trong nhà, C2.2 chụp thể thao ngoài trời..v.v...

Để tạo thuận lợi cho người sử dụng, các hãng sản xuất cố gắng tiêu chuẩn hóa các thiết lập thông số kỹ thuật cho từng tình huống giúp những người chụp không cần hiểu các khái niệm như DOF, Aperture, Shutter,...vẫn có thể chụp được những tấm ảnh như mong muốn.


CHẾ ĐỘ CHỤP AUTO HOÀN TOÀN: Automatic mode



Ký hiệu là ô hình vuông màu xanh, hình máy ảnh, hoặc chữ Auto, đây là chế độ dành cho người mới biết đến nhiếp ảnh, luôn có trên thể loại máy ngắm và chụp (compact) và được đa số người sử dụng máy chọn lựa, máy tự động đoán bạn đang chụp cái gì để lấy nét, chỉnh khẩu độ, tốc độ, độ nhạy sáng, cân bằng trắng,flash...và bạn chỉ cần bấm nút. Nhìn chung với chế độ này bạn chỉ có thể dùng tạm khi chưa nắm bắt kỹ thuật, chứ khó lòng giúp bạn có những tấm ảnh ấn tượng được.

SCENE MODE :



Mỗi hãng sản xuất lại chia nhỏ Auto mode thành hàng loạt mode nhỏ hơn, sự tính toán, điều chỉnh các thông số kỹ thuật trong các chế độ có thể không giống nhau giữa các nhãn hiệu máy, đem lại những kết quả khác nhau.

Marco mode : Chụp cận cảnh, thích hợp khi chụp hoa, côn trùng, máy có thể sẽ cố gắng tính toán để mở khẩu độ lớn.

Flower : Một số máy có thể có chế độ auto riêng cho chụp hoa

Landscape mode : Chỉnh về chế độ này khi muốn chụp phong cảnh, máy thường làm tốt nhiệm vụ nếu trời quang đãng, ánh sáng đủ.

Sport mode : Chụp ảnh thể thao, giảm mờ nhòe khi đối tượng chụp di chuyển, máy thường tìm cách nâng tốc độ chụp lên, chụp nhanh để bắt đứng hình lại.

Night mode : Chụp cảnh đêm, máy có thể tính toán đẩy ISO lên cao, mở rộng khẩu độ hay giãn thời gian đóng màn trập (chụp tốc độ chậm)...

Night portrait : Chụp người ban đêm, máy có thể đẩy flash on và cố gắng nhận dạng và loại bỏ hiện tượng mắt đỏ

Night landscape : Chụp phong cảnh ban đêm.

Fireworks : Chụp pháo hoa, máy thường xử lý auto kém trong những chế độ khó chụp như chụp cảnh pháo hoa.

Beach : Cảnh biển, thường được máy hiểu là ánh sáng nhiều, chói nắng.

Snow : Trời nhiều tuyết, sáng trắng.

Và còn rất nhiều chế độ chụp được lập sẵn khác như tự chụp mình , chụp văn bản , chụp trong nhà bảo tàng , chụp ngược sáng , trẻ em , tiệc tùng , chân dung ... nói chung chụp người , vật nuôi, hoa cỏ, ...máy thường cố gắng xác định vật thể cần lấy nét, đặt vật ấy vào vùng rõ nét, loại bỏ mắt đỏ và cố gắng tính toán để điều tiết ánh sáng phù hợp ( tăng giảm ISO, bật hay tắt Flash)...chụp cảnh thường chọn lấy một khung cảnh chuẩn mực để dựa vào. dù thế nào thì độ thông minh của máy ảnh vẫn còn nhiều giới hạn nên bạn không nên quá ỷ lại vào những chế độ tự động này, đặc biệt trong những tình huống không phải là một tình huống chuẩn.

Các chế độ phụ khác:

Chế độ Burst : Chế độ chụp ảnh liên tiếp nhiều tấm (multi-shot) dùng trong một số trường hợp như ghi nhận một sự kiện đang diễn ra rất nhanh, chụp ảnh thể thao, chụp trẻ em (trẻ rất khó đứng im nên thường phải dùng Burst mode để chụp liên tiếp nhằm chọn ra tấm ưng ý nhất)



Chế độ Autofocus : Chụp tự động lấy nét ký hiệu AF


Vài điểm phân biệt các chế độ lấy nét tự động:

Lấy nét tự động liên tục (continuous): Máy liên tục rà soát để lấy nét và bất cứ lúc nào bạn chụp nhấn nút chụp cũng được.

Lấy nét tự động đơn (single - one shot): Khi chụp nhấn nhẹ nút chụp nửa đường để lấy nét, lấy nét xong nhấn hẳn nút chụp xuống để chụp, tuy tiết kiệm pin hơn nhưng có thể không kịp chụp trong một số tình huống cần bắt lấy khoảnh khắc thật nhanh.

Chế độ lấy nét AI Servo: Chế độ lấy nét dành cho chụp chủ thể đang chuyển động liên tục, máy tự động căn khoảng cách lấy nét và lấy nét đúng vào thời điểm bấm chụp



Chế độ lấy nét AI Focus: Chế độ lấy nét thông minh thụ động, máy lấy nét cho chủ thể tĩnh nhưng khi chủ thể bất ngờ di chuyển thì máy chuyển sang AI Servo để lấy nét

Ngoài ra tùy dòng máy mà còn có một số chế độ như chụp toàn cảnh Panorama, Flash tự động, quay phim, chụp đen trắng, chụp hiệu ứng..v.v.