Dành cho các bạn bắt đầu mê nhiếp ảnh, sưu tầm và copy từ nguồn này:
http://vinacamera.com/?p=248#more-248
(Một số từ ngữ có phần hơi"khíu chọ" nhưng tôn trọng tác giả nên Già để nguyên vậy, mong các bạn thông cảm)
Vòng chuyển chế độ chụp ở Canon 450D và Nikon D90
VinaCamera.com
– Đối với nhiều người sử dụng máy ảnh KTS, lúc nào nên chọn chế độ ưu
tiên khẩu độ mở (A ở Nikon / Av ở Canon), ưu tiên tốc độ cửa chập (S ở
Nikon / Tv ở Canon) và chế độ lập trình sẵn (P) là một câu hỏi phức
tạp. Sau đây là hướng dẫn giúp các bạn hiểu rõ các yếu tố tạo nên một
bức ảnh cũng như đặc điểm của từng yếu tố để sử dụng từng chế độ cho
phù hợp.
1. Phơi sáng (exposure)
Một
bức ảnh được tạo ra bởi quá trình thu nhận ánh sáng lên cảm biến của
máy ảnh KTS (image sensor) – mà trước đây là bản phim nhựa – tức là
cho cảm biến hay phim “phơi sáng” (exposure). Có ba yếu tố ảnh hưởng
tới quá trình phơi sáng: Độ nhạy ISO, khẩu độ mở (của lỗ điều tiết ánh
sáng trên ống kính) và tốc độ cửa chập (thời gian – thường tính bằng
một phần của giây đồng hồ).
- Độ nhạy ISO: càng cao thì cảm biến bắt sáng càng nhạy, ảnh càng sáng (nếu hai yếu tố kia là không đổi).
-
Khẩu độ mở: càng lớn thì luồng ánh sáng lọt qua lỗ điều tiết ánh sáng
(aperture) càng nhiều làm ảnh càng sáng (nếu hai yếu tố kia là không
đổi). Chú ý: Khẩu độ mở được tính bằng chỉ số f/stop, ví dụ f/1.4,
f/2.8, f/8 hay f/32; chỉ số này càng nhỏ thì khẩu độ mở càng lớn và
ngược lại.
- Tốc độ cửa chập: Cửa chập là bộ phận mở ra (rồi đóng
lại) khi bấm máy nhằm điều chỉnh thời gian phơi sáng của cảm biến. Tốc
độ cửa chập càng chậm, thì thời gian phơi sáng càng nhiều, dẫn tới
ảnh càng sáng (nếu hai yếu tố kia là không đổi).
Ở máy ảnh sử
dụng phim nhựa truyền thống, độ nhạy ISO phụ thuộc vào loại phim người
chụp sử dụng, ví dụ phim ISO-100, ISO-400; hai yếu tố khẩu độ mở và
tốc độ cửa chập đều được điều chỉnh bằng tay (cơ học) bằng cánh điều
chỉnh vòng khẩu độ trên ống kính (aperture ring) và vòng tốc độ trên
thân máy (shutter speed dial), và vì vậy các máy này thường được gọi
là các máy “cơ” (manual). Chế độ “cơ” hoàn toàn - được ký hiệu là M
(Manual) ở mọi loại thân máy – này hiện vẫn còn được sử dụng ở các máy
ảnh KTS trung/cao cấp và chuyên nghiệp để giúp nhiếp ảnh gia có thể
làm chủ hoàn toàn các yếu tố phơi sáng một cách sáng tạo.
Tuy
nhiên, để máy ảnh trở nên “thân thiện” hơn với người chơi ảnh thuộc
mọi tầng lớp, dựa vào sự tiến bộ của công nghệ chế tạo máy ảnh, các
nhà sản xuất đã phát triển nhiều tính năng tự động cho máy ảnh như chế
độ lập trình sẵn (progam), ưu tiên khẩu độ mở (aperture priority) và
ưu tiên tốc độ cửa chập (shutter speed priorty).
Ký hiệu các chế độ này có khác nhau đôi chút ở các hãng khác nhau. Ví dụ:
- Lập trình sẵn: Program (P) ở cả Canon và Nikon
- Ưu tiên khẩu độ mở: Aperture value (Av) ở Canon và Aperture priority (A) ở Nikon
- Ưu tiên tốc độ cửa chập: Time value (Tv) ở Canon và Shutter speed priority (S) ở Nikon
2. Đặc điểm các yếu tố khẩu độ mở và tốc độ cửa chập
Để
bức ảnh được phơi sáng hợp lý, người chụp cần điều chỉnh tăng giảm
các yếu tố nêu trên một cách linh hoạt. Đối với độ nhạy ISO, trong
những trường hợp đã tận dụng hết khả năng hai yếu tố còn lại mà máy ảnh
cho phép nhưng vẫn không đạt được hiệu quả ánh sáng mong muốn, người
chụp thường phải tăng độ nhạy ISO của cảm biến (hay phim).
Vậy
còn hai yếu tố khẩu độ mở và tốc độ cửa chập? Tại sao không luôn cố
định một trong hai yếu tố và chỉ cần tăng giảm yếu tố còn lại cho bớt
phức tạp, chẳng hạn tại sao không luôn để ống kính mở ở khẩu độ tối đa
rồi chỉ cần điều chỉnh tốc độ chụp? Thực tế hoàn toàn không đơn giản
như vậy bởi mỗi yếu tố đều đi kèm với những điều kiện và hiệu ứng nhất
định đối với bức ảnh.
Đặc điểm tốc độ cửa chập
Tốc
độ cửa chập điều tiết thời gian phơi sáng của cảm biến. Nếu khoảng
thời gian phơi sáng dài (tốc độ chậm), ảnh sẽ bị ảnh hưởng bởi các
chuyển động của chủ thể muốn chụp và việc rung tay máy cầm chụp
(hand-holding), dẫn tới hình ảnh ghi nhận sẽ bị nhòe mất nét (blur). Mỗi
người chụp có khả năng giữ cho máy không rung ở tốc độ tối thiểu cho
phép, nhưng nhìn chung, để đảm bảo ảnh không bị nhòe do rung tay máy,
tốc độ cửa chập an toàn nhất để có được hình ảnh nét căng (stack
sharp) phải là 1/250s (giây). Trong nhiều trường hợp ánh sáng quá yếu
đòi hỏi phải đặt tốc độ của chập rất chậm – như 1/60s, 1/30s hay 1
giây và thấp hơn, thâm chí ngay cả những tay máy lão luyện cũng phải
đặt máy lên chân máy (tripod) mới có thể triệt tiêu được hiện tượng
rung tay. Tuy vậy, dù tay máy của bạn có vững đến đâu đi chăng nữa và
ngay cả chân máy cũng không thể khiến chủ thể đứng yên để chụp (như
trong chụp thể thao, chim thú, v.v…) vì vậy vẫn phải tăng tốc độ cửa
chập lên cao – ví dụ: chụp chim trời bay lượn thường phải đặt ở tốc độ
lớn hơn 1/1250s) để loại bỏ hiện tượng nhòe ảnh.
Trong điều
kiện ánh sáng không thuận lợi như quá sáng hay quá tối, điều chỉnh tốc
độ cửa chập là giải pháp duy nhất tạo phơi sáng hợp lý. Trong điều
kiện quá sáng, sau khi đã khép tối đa khẩu độ mở mà ống kính cho phép,
người chụp sẽ phải điều chỉnh tăng tốc độ cửa chập để giảm hơn nữa
giá trị phơi sáng của bức ảnh. Ngược lại, trong điều kiện ánh sáng quá
yếu, sau khi đã mở ống kính ở khẩu độ lớn nhất, người chụp sẽ phải
giảm tốc độ cửa chập, đôi khi xuống rất thấp mới bảo đảm đủ sáng cho
ảnh – và sẽ phải sử dụng chân máy để bảo đảm ảnh không bị nhòe.
Đặc điểm khẩu độ mở
Điều
dễ hiểu là khẩu độ mở càng lớn (chỉ số f/stop càng nhỏ) thì ảnh càng
sáng. Tuy nhiên, đi kèm mới lượng ánh sáng đi qua “lỗ” điều tiết ánh
sáng (aperture) trong ống kính còn có các đặc điểm (cả mong muốn và
không mong muốn) tạo hiệu ứng khác nhau cho mỗi bức ảnh.
Khẩu độ
mở lớn giúp người chụp tạo phơi sáng phù hợp cho ảnh trong điều kiện
ánh sáng yếu mà vẫn muốn duy trì tốc độ cao để tránh hiện tượng rung
tay máy. Nhưng khẩu độ mở càng lớn lại làm cho chiều sâu ảnh trường
(depth of field / DOF) càng nhỏ và tăng hiệu ứng nhòa mờ mất nét ngoài
vùng căn nét (bokeh) trên cùng một bức ảnh. Hơn nữa do công nghệ sản
xuất ống kính, các khẩu độ mở lớn còn tạo ra hiện tượng tối hơn ở các
mép ảnh (vignetting).
Việc điểu chỉnh khẩu độ mở giúp người chụp
làm chủ chiều sâu ảnh trường của bức ảnh, chủ động tạo DOF lớn (hay
còn gọi là “dày”) để mọi chủ thể trong khuôn hình đều nết, như trong
ảnh phong cảnh hay chụp nhóm nhiều người; hay ngược lại tạo DOF nhỏ
(hay còn gọi là “mỏng”) để đạt được những hiệu ứng xóa phông (blur
background) hay bokeh cũng như vignetting mong muốn.
Như vây ta
thấy, không thể luôn cố định một trong hai yếu tố khẩu độ mở hay tốc
độ cửa chập để chỉ phải điều chỉnh yếu tố còn lại cho bớt phức tạp mà
phải điều chỉnh cả hai yếu tố một cách linh hoạt tùy thuộc điều kiện
ánh sáng và mục đích chụp để đạt được những hiệu ứng mong muốn.
Với
máy ảnh KTS, ở chế độ “cơ” hoàn toàn (full manual), người chụp sẽ làm
chủ mọi yếu tố phơi sáng. Tuy nhiên, để giảm bớt gánh nặng “tính
toán” cho người chơi ảnh không chuyên nghiệp, giúp xử lý nhanh trong các
tình huống đặc biệt, công nghệ chế tạo máy ảnh KTS hiện đại – đặc
biệt là công nghệ đo sáng tự động (metering) – đã cho ra đời những
tính năng mới với các chế độ tự động và bán tự động làm hài lòng đông
đảo người chơi ảnh
3. Chế độ lập trình sẵn (program)
Khác
với chế độ tự động hoàn toàn (Auto / A) theo đó máy ảnh KTS sẽ tự
động điều chỉnh mọi giá trị phơi sáng và tự động kích hoạt đèn flash
khi thiếu sáng, với chế độ lập trình sẵn (P), máy ảnh KTS sẽ tự động
điều chỉnh hai giá trị khẩu độ mở và tốc độ cửa chập, và cho phép người
chụp điều chỉnh độ nhạy ISO, cân bằng trắng (White Balance / WB) và
chế độ bật/tắt đèn flash (Flash ON/OFF).
Ngoài ra, ở chế độ P,
người chụp còn có thể xoay bánh xe điều khiển để tạo các tổ hợp giá trị
giữa khẩu độ mở và tốc độ, tạo ra các giá trị mong muốn; ví dụ, nếu
đang ở chế độ P, máy căn sáng cho giá trị khẩu độ mở (A) = 4, và tốc độ
cửa chập tương ứng là 1/60s để có ánh sáng phù hợp, người sử dụng có
thể xoay bánh xe điều khiển về chiều này hoặc chiều kia để có các giá
trị phơi sáng tương đương nhưng với tổ hợp khác nhau, nhưng tạo chiều
sâu ảnh trường hay tốc độ để chống rung tay máy khác nhau: (1) xoay
vòng bánh xe để mở khẩu ra f/2.8 và máy sẽ tự động điều chỉnh tốc độ
nhanh lên 1/125s (tương đương về EV với f/4 + 1/60s), hoặc khép khẩu
lên f/8 (để tạo chiều sâu ảnh trường lớn hơn với f/4) thì lúc này máy
sẽ tự động giảm tốc độ xuống còn 1/15s (bù trừ 2 khẩu) để bảo đảm ánh
sáng cho ảnh.
Gợi ý sử dụng chế độ P
- Khi chưa chủ động cách điều chỉnh khẩu độ mở và tốc độ cửa chập
- Muốn để máy tự động hoàn toàn nhưng muốn chủ động bật hay tắt đèn flash
- Muốn điều chỉnh độ nhạy ISO
- Muốn điều chỉnh chế độ cân bằng trắng
4. Ưu tiên tốc độ cửa chập (shutter speed priority)
Ở
chế độ ưu tiên tốc độ cửa chập, máy ảnh KTS cho phép người chụp đặt
tốc độ cửa chập – cũng như ISO và cân bằng trắng – còn máy sẽ tự động
điều chỉnh khẩu độ mở để bảo đảm ánh sáng cho ảnh.
Gợi ý sử dụng chế độ ưu tiên tốc độ – S (Nikon) / Tv (Canon)
-
Người chụp muốn bảo đảm triệt tiêu hiện tượng rung tay máy khi cầm
chụp, nhiều người chụp thường đặt ở tốc độ từ 1/125s-1/250s để đạt được
điều này.
- Trong điều kiện ánh sáng môi trường điều hòa, không
quá gắt và không quá yếu, hay các trường hợp chụp trong nhà có ánh
sáng môi trường tương đối ổn định, không phải chụp ngược sáng, v.v…
chế độ S/Tv cũng cho phép người chụp giản thiểu tính toán phơi sáng
bằng cách đặt một tốc độ chụp cố định (cùng ISO và WB cố định).
-
Trong trường hợp sử dụng ống zoom (tiêu cự thay đổi) có khẩu độ mở
thay đổi theo tiêu cự, việc đặt một tốc độ cố định cũng giúp giản thiểu
tính toán phơi sáng khi chuyển tiêu cự chụp (zoom ra, zoom vào)
-
Trong trường hợp sử dụng đèn flash số có TTL (through-the-lens) với
ánh sáng tương đối không đổi giữa các kiểu chụp và bảo đảm tốc độ đồng
bộ đèn (flash sync speed).
5. Ưu tiên khẩu độ mở (aperture priority)
Ở
chế độ ưu tiên khẩu độ mở (A / Av), máy ảnh KTS sẽ cho phép người
chụp chủ động đặt khẩu độ mở – cũng như ISO và cân bằng trắng – còn máy
sẽ tự động điều chỉnh tốc độ cửa chập để bảo đảm ánh sáng cho ảnh.
Gợi ý sử dụng chế độ ưu tiên khẩu độ mở – A (Nikon) / Av (Canon)
Với chế độ này, người chụp muốn chủ động điều chỉnh chiều sâu ảnh trường (DOF) để chủ động:
-
Tăng DOF bằng cách đặt khẩu độ mở nhỏ (f/stop lớn) tạo độ nét sâu cho
ảnh phong cảnh hay đảm bảo các chủ thể ngoài vùng căn nét cũng có độ
nét cao như chụp một nhóm người, chụp cận cảnh phóng đại (macro), v.v…;
-
Giảm DOF bằng cách đặt khẩu độ mở lớn (f/stop nhỏ) tạo hiệu ứng xóa
phông (blur background) cao làm nổi bật chủ thể trong các tình huống như
chụp chân dung, v.v… hay tạo hiệu ứng nhòa mờ ngoài vùng căn nét
(bokeh) và chủ động tạo hiệu ứng tối mép ảnh (vignetting) ở những trường
hợp nhất định.
- Sử dụng chế độ này trong các trường hợp nhận
thấy tốc độ cửa chập không gây hiện tượng rung tay không ảnh hưởng tới
ảnh do môi trường ánh sáng mạnh, hoặc có khả năng đặt máy cố định
(lên chân máy) để dễ dàng chủ động điều chỉnh DOF và chụp với tốc độ
chậm mà không phải tăng ISO lên quá cao vẫn bảo đảm phơi sáng tốt.
Như
vậy, với hiểu biết về tính chất của từng yếu tố phơi sáng, sử dụng
một trong hai chế độ ưu tiên tốc độ cửa chập hoặc ưu tiên khẩu độ mở
sẽ giản thiểu công sức tính toán, đặc biệt giúp người mới chơi ảnh hay
nghiệp dư có cơ hội tập trung hơn vào sáng tác nghệ thuật để có được
những bức ảnh đẹp.
VinaCamera.com