Thứ Năm, 16 tháng 7, 2015

Để an toàn trước những hiểm họa trên Facebook

Nguồn:

http://www.khoahocphothong.com.vn/newspaper/detail/41281/de-an-toan--truoc-nhung-hiem-hoa-tren-facebook.html




Một loạt giải pháp và các phân tích chuyên sâu trong bài viết sẽ giúp bạn bảo vệ tài khoản Facebook của mình trước các nguy cơ bị nhiễm virus, mã độc từ các đường link lừa đảo, dẫn dụ bạn bấm vào để tạo hình đẹp, dùng biểu tượng vui nhộn... Không chỉ có vậy, bài viết còn gợi ý các hình thức bảo vệ máy tính khi kết nối Internet.


1. Mối đe dọa Clickjacking

Clickjacking là một trong những công cụ lâu đời nhất được sử dụng bởi những kẻ lừa đảo trên mạng Internet, là thành phần được sử dụng phổ biến nhất cho các mối đe dọa. Bằng các cách đánh lừa người dùng bấm vào liên kết (link) có nội dung được nhiều người quan tâm để hướng đến nội dung độc hại. Chẳng hạn, bạn có thể bấm vào một nút, nhưng thay vì đưa đến một trang cụ thể nó tự kích hoạt webcam trên máy.
Trên Facebook và các trang web truyền thông xã hội khác, clickjacking đã được sử dụng trong nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn, likejacking là một biến thể của Clickjack, đây còn là một kỹ thuật độc hại lừa người dùng vô tình “thích (bấm nút Like)” một trang Fan Page nào đó.
Clickjacking trên Facebook cũng đã được sử dụng để lây nhiễm máy tính của người dùng với các mã độc hại.Khi bấm vào một liên kết độc hại, bạn đã vô tình tải về phần mềm độc hại vào máy tính của của mình. Một số kỹ thuật được sử dụng trong các cuộc tấn công clickjacking gần đây bao gồm:
- Tin lừa đảo, thường liên quan đến các tin đồn giải trí gây tranh cãi để thu hút người dùng bấm vào liên kết độc hại. Chẳng hạn, tin lừa đảo về một người nổi tiếng bị chết.
- Nội dung độc quyền: các cuộc tấn công đi kèm với báo cáo gần đây cho biết, kẻ gian lôi kéo người dùng truy cập vào trang web hoặc hình ảnh độc quyền có tính hấp dẫn cao.
- Tin mới nhất: cuộc tấn công này lợi dụng những tin tức mới nhất và các xu hướng tận dụng bản năng của con người là làm thế nào để cập nhật các tin tức sự kiện trong thời gian sớm nhất.
- Khuyến mãi/cuộc thi: cuộc tấn công này được thực hiện nhằm lôi kéo người dùng đến với một chương trình khuyến mãi hoặc cuộc thi lớn. Người dùng sẽ được yêu cầu bấm vào một liên kết để đăng ký xem quảng cáo hoặc tham gia cuộc thi.


Cách phòng ngừa

Facebook tiếp tục thực hiện cập nhật trang web để bảo vệ người dùng khỏi các hình thức Clickjacking, nhưng bạn có thể chủ động phòng tránh những mối đe dọa này. Để bắt đầu, bạn tránh bấm vào liên kết trong trang News Feed của Facebook; nếu nó quá tốt và đảm bảo an toàn thì có thể truy cập.
Ngoài ra, bạn tránh xem những tiêu đề liên quan đến tin một ai đó đã chết. Và hãy cảnh giác với các tiêu đề hấp dẫn mà bạn biết rằng nó không thể nào là sự thật.
Bạn cũng nên hạn chế khả năng xem thông tin cá nhân trên trang Facebook, không bấm vào các liên kết tin tức có nguồn xuất hiện bí ẩn, thay vào đó chỉ đọc những tin tức mới nhất từ các trang tin đáng tin cậy.
Là một công dân mạng tốt và giúp đỡ cộng đồng bằng cách chủ động báo cáo trang web đáng ngờ lên quản trị viên Facebook.
Nếu đang sử dụng trình duyệt Firefox, hãy cài đặt add-on miễn phí NoScript. Tính năng Clear Click của nó có khả năng bảo vệ chống lại Clickjacking.
Cuối cùng, cài đặt các phần mềm phòng chống virus để có khả năng bảo vệ máy tính và người dùng khi truy cập Internet.


2. Lừa đảo

Một cuộc tấn công lừa đảo là phiên bản trực tuyến của hoạt động mạo danh. Những kẻ tấn công sẽ mạo danh một thực thể đáng tin cậy, chẳng hạn như bạn sẽ nhìn thấy một cổng thông tin đăng nhập Facebook trông như thật. Một khi nhập tên tài khoản và mật khẩu của mình vào, thì về cơ bản là bạn đã bàn giao tài khoản Facebook cho kẻ tấn công!
Một trong những cuộc tấn công lừa đảo phổ biến gần đây nhất là một ứng dụng giả mạo được sử dụng để ăn cắp thông tin đăng nhập. Trong năm 2013, một báo cáo liên quan đến ứng dụng cho phép bạn xem ai đã xem trang hồ sơ cá nhân Facebook của mình. Trang web giả mạo xuất hiện như là trang đăng nhập Facebook, cung cấp 2 tùy chọn để kích hoạt ứng dụng giả mạo. Tùy chọn đầu tiên yêu cầu người dùng nhập thông tin của họ vào trang web giả mạo, trong khi lựa chọn thứ hai yêu cầu tải về và cài đặt phần mềm nhận thông báo khi có ai đó xem hồ sơ của mình. Trong thực tế, phần mềm độc hại này sẽ thiết lập một keylogger trên máy tính nạn nhân và gửi dữ liệu đăng nhập đến những kẻ lừa đảo ngay sau khi kết nối Internet được phát hiện.


Cách phòng ngừa

Một trong những cách cơ bản nhất để ngăn chặn một cuộc tấn công lừa đảo trực tuyến là để kiểm tra URL (link) trong thanh địa chỉ để chắc chắn rằng bạn đang thực sự nhập thông tin đăng nhập vào trang đăng nhập Facebook chính hãng và không phải là giả mạo.Ngoài ra, bạn tìm kiếm biểu tượng ổ khóa để đảm bảo nó là một trang an toàn (https); nếu không chắc chắn, bạn hãy bấm vào biểu tượng ổ khóa để xác nhận danh tính của trang web được xác minh là Facebook.com. Thực hiện việc này một bước xa hơn và đảm bảo bạn đang sử dụng thế hệ mới nhất của trình duyệt web; chắc chắn rằng trình duyệt web của mình được cập nhật một cách thường xuyên. Các trình duyệt Chrome, Firefox, Internet Explorer và Opera mới nhất hiện nay đều tích hợp khả năng bảo vệ chống lừa đảo và các phần mềm độc hại.
Không bấm vào liên kết Facebook hứa hẹn một cái gì đó mới lạ trước khi xác nhận nó được lấy từ một trang web có uy tín. Chẳng hạn, trong cuộc tấn công lừa đảo nói trên, tất cả các nạn nhân đều muốn tìm hiểu xem ai đã xem hồ sơ của mình, có thể bằng cách đăng một câu hỏi lên một trang web uy tín liên quan đến công nghệ...
Bạn cũng có thể sử dụng một ứng dụng mới có tên Fakeoff (https://www.fakeoff.me) sử dụng thuật toán để phát hiện một hồ sơ giả mạo bằng cách phân tích thông tin hồ sơ cá nhân và thậm chí kiểm tra xem các bức ảnh hồ sơ là giả mạo.


3. Facebook Team

Cuộc tấn công này cũng sử dụng phương pháp mạo danh. Kẻ gian sẽ gửi cho bạn một tin nhắn giả dạng là admin Facebook hoặc hỗ trợ khách hàng. Một tin nhắn thông thường sẽ yêu cầu bạn một số hành động khẩn cấp, chẳng hạn bấm chuột vào một file đính kèm hoặc liên kết để cập nhật tài khoản hoặc đối phó với những truy vấn. Liên kết sẽ dẫn đến trang web phần mềm độc hại, và bất kỳ file đính kèm sẽ được đóng gói với phần mềm độc hại lây nhiễm vào máy tính của bạn.
Một biến thể khác của Facebook Team có thể là mối đe dọa chính là giả mạo lời mời từ một giải thưởng nếu bạn chuyển tiếp nó cho tất cả các bạn bè của mình hoặc đăng nội dung (thư rác) lên tường của họ. Trang web giả mạo cũng có thể được thiết lập cho chương trình clickjacking. Một ví dụ là iBanking, một ứng dụng Android độc hại được thiết kế để gian lận ngân hàng điện tử và đặc biệt là bỏ qua tính năng xác thực hai yếu tố được sử dụng bởi các ngân hàng. Người dùng được thu hút cài đặt ứng dụng trên điện thoại thông qua JavaScript.


Cách phòng ngừa

Điều này đòi hỏi một chút suy nghĩ và phán đoán từ phía người sử dụng. Facebook có những quy định chống thư rác nghiêm ngặt với lý do ngăn không cho phép một ai đó gửi spam. Ngoài ra, nhiều thông điệp được gửi từ Facebook giả mạo sẽ được viết bằng ngữ pháp nghèo, đó là chưa kể lỗi trong quá trình đánh máy.
Nếu bạn nhận được một tin nhắn đáng ngờ từ “Facebook Team”, hãy xóa nó ngay lập tức mà không cần bấm bất cứ điều gì và báo cáo cho quản trị viên Facebook nhờ giúp đỡ.


4. Ứng dụng Facebook giả mạo

Các game trên Facebook được sử dụng phổ biến như Candy Crush Saga, Family Heroes... là mục tiêu của các game giả mạo, nhằm phục vụ mục đích Clickjacking, phần mềm độc hại hay lừa đảo. Ứng dụng giả mạo trông giống như thật, và nhiều người thường bấm cho phép nó mà không cần suy nghĩ nhiều. Trước khi biết điều này, tài khoản Facebook của bạn đã bị tấn công và được sử dụng để phát tán thư rác tới tất cả bạn bè của mình. Một số ứng dụng cũng thực hiện tính năng tag để phát tán thư rác trên Facebook.


Cách phòng ngừa

Việc phát hiện một ứng dụng giả mạo có thể khá khó khăn bởi vì chúng được thiết kế trông rất giống với thật. Cách tốt nhất để tránh một ứng dụng giả mạo là tránh các ứng dụng của bên thứ ba. Tuy nhiên, đây có thể là một điều rất cực đoan và có thể không phải là lựa chọn tốt cho những ai thích chơi game hàng ngày trên Facebook.
Phương pháp tiếp cận thực tế hơn là phải rất chọn lọc các ứng dụng mà bạn cài đặt. Gắn bó với các nhà phát triển nổi tiếng và luôn thực hiện các nghiên cứu sâu rộng trước khi cho phép một ứng dụng truy cập vào tài khoản Facebook của bạn.
Ngoài ra, bạn có thể kiểm tra lại danh sách các ứng dụng mà mình đã cho phép truy cập vào tài khoản bằng cách vào mũi tên thả xuống (nằm ở phía góc trên bên phải trang Facebook), di chuyển xuống, bấm vào Settings > Apps. Sau đó, bạn xem lại quyền truy cập của ứng dụng đang sử dụng, hãy xóa bất kỳ ứng dụng mà mình không chắc chắn về nó.
Bạn truy cập vào Timeline and Tagging >Tag Review và kích hoạt phần Review posts friends tag you in before they appear on your timeline.


5. Phần mềm độc hại

Phần mềm độc hại và virus có thể được cài vào máy tính thông qua Facebook bàng cách sử dụng bất kỳ phương pháp nào nói trên. Các phần mềm này được phát hiện gần đây gồm Zeus (một trojan house), Koobface (sử dụng clickjacking để lây nhiễm máy tính người dùng), virus LOL (lây lan qua chức năng chat của Facebook thu hút bạn bè bấm vào file đính kèm để tải file java có chứa phần mềm độc hại từ Dropbox).


Cách phòng ngừa

Mối đe dọa mọc lên hàng ngày, và cách tốt nhất để tránh phần mềm độc hại là không bấm vào liên kết trong các cuộc trò chuyện từ những người không phải là bạn bè của bạn. Cập nhật bảo mật để bạn không thể nhận tin nhắn như vậy nữa. Cụ thể hơn, Zeus hướng đến mục tiêu người dùng Windows (Mac và như Linux ít bị ảnh hưởng). Do đó, bạn có thể xem xét tránh Windows để chuyển sang một nền tảng hệ điều hành máy tính khác.
Đối với virus LOL, bạn hãy tránh tải những file có từ LoL đính kèm trong tin nhắn. Nếu không chắc chắn tin nhắn đó được gửi từ bạn bè của mình, bạn hãy nhấc điện thoại lên và gọi cho họ hoặc gửi email để hỏi lại.
Người sử dụng Windows cũng nên đảm bảo cài đặt một chương trình chống virus tốt, và cập nhật trình duyệt web của mình lên phiên bản mới nhất.


NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG thuphuong21111991@gmail.com

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2015

Thêm ít kiến thức cho bạn, cho tui về nhiếp ảnh thôi...

Note ni được trích gọn từ hai bài viết của tác giả An Nguyen trên báo Trẻ Online.


1/ Xài thử ống kính Sigma (kỳ 147)

Cho đến nay đã có rất nhiều người tỏ ý rằng họ rất mê thích môn chụp hoang dã (chim chóc) nhưng điều cản trở họ nhất là sự thiếu “đồ nghề”. Nói là đồ nghề nhưng thật sự hầu hết họ đã làm chủ một máy ảnh DSLR rồi, họ chỉ thiếu một ống kính lớn chuyên dùng để chụp xa (supertele). Nhưng điều khó khăn để làm sở hữu một loại ống kính như vậy là sức nặng của nó - trong cả hai ý nghĩa. Nặng về trọng lượng và cũng nặng về giá tiền. Những ống kính này được bán từ $5,500 tới $18,000 tùy theo tiêu cự và khẩu độ tối đa. Trọng lượng của chúng cũng khá nặng, thường thì khoảng 10 lbs. nhưng ít nhất cũng 5 lbs.



Tác giả đang “săn ảnh” với ống kính Sigma 150-600mm.Tác giả đang “săn ảnh” với ống kính Sigma 150-600mm.

Vào tháng Chín năm vừa qua, công ty Sigma đã thông báo ra hàng cho loại ống kính supertele zoom 150-600mm của họ, bao gồm hai hạng - ‘Sports’ và ‘Contemporary’. Sigma đã từng sản xuất những supertele zoom từ nhiều thập niên, nhưng không một ai trong nghề có thể xem nó là “địch thủ đáng kể”. Vì sự cồng kềnh, chậm, và có phẩm chất ảnh rất thấp. Nhưng kể từ năm 2013, hãng Sigma đã có một hướng đi mới với những sản phẩm của họ: tất cả những ống kính mới do họ sản xuất sẽ được sắp theo một trong ba hạng: ‘Sports’, ‘Art’, và ‘Contemporary’. Đời ống kính này là một tiến bộ vượt bực hơn những đời từ trước, và trong vài trường hợp còn cạnh tranh với hoặc qua khỏi phẩm chất của ống kính tương đương của hai hiệu “đại gia” - Nikon và Canon.

Dù hai món hàng mới của Sigma đã được thông báo đã lâu, mãi tới Tháng Hai năm 2015, hạng ‘Sports’ của ống kính này mới bắt đầu có trong tồn kho để bán cho khách hàng. Trong khi các tay nhiếp ảnh đang mơ ước cầm trong tay hạng ‘Contemporary’ phải đợi thêm ba tháng nữa - tới cuối Tháng Năm Sigma mới bắt đầu bán.

Hình chân dung chim chụp bằng ống kính Sigma 150-600mm. Lưu ý background tuyệt mờ, làm chủ thể nổi hẳn.Hình chân dung chim chụp bằng ống kính Sigma 150-600mm. Lưu ý background tuyệt mờ, làm chủ thể nổi hẳn.

Tôi đã từng tránh mua ống kính supertele hạng nặng của Sigma từ khi có kinh nghiệm không tốt với hàng Sigma nhiều năm về trước. Nhưng sau những thay đổi khả quan trong hàng ngũ ống kính của Sigma hai năm qua, tôi đã bắt đầu để ý và theo dõi xem họ có gì mới lạ và những lời đồn có thật hay không. Lần này tôi đã quyết định thử ống kính 150-600mm ‘Contemporary’ - một “ứng cử viên” cho những người đã từng mơ ước có cơ hội chụp thể loại ảnh thú hoang dã (chim chóc) nhưng chưa dám bỏ tiền mua. Vài ngày trước, Sigma đã gởi về cho tôi một ống kính mới tinh.

Lần đầu tiên tôi mở thùng và đem ống kính Sigma 150-600mm “Contemporary” ra “xài thử”, nhấc ống kính lên, tôi có cảm giác như nó nặng cỡ 70-200mm f/2.8 hoặc nặng hơn tí và dài hơn. Thật đáng mừng, so với trọng lượng của những ống kính Nikon 500mm, 600mm, và 800mm thì ống kính Sigma supertele có cảm giác như nhẹ như lông vịt; cầm trên tay cả ngày mà không mệt.

Phần quan trọng nhất tôi muốn thử là phần lấy nét tự động (autofocus hoặc AF). Lúc đầu ống kính có vẻ lười biếng, chạy tới chạy lui tìm nét hơi lâu. Nhưng sau khi chỉnh vài công tắc trên ống kính và trên máy, tôi đã “dợt” cho nó chạy ào ào như những anh chàng lính con.

Ống kính lấy nét đủ nhanh để chụp chim bay (Vịt Gỗ) trong bóng (gần) tối.Ống kính lấy nét đủ nhanh để chụp chim bay (Vịt Gỗ) trong bóng (gần) tối.

Trái lại với những lời đồn và “kiến thức chung” từ trước, ống kính này vẫn chụp ra hình rõ ở những tiêu cự tối đa, như 500mm tới 600mm. Bạn có thể khóa ống kính ở những tiêu cự 150mm, 180mm, 200mm, 250mm, 300mm, 400mm, 500mm, và 600mm để ống kính khỏi bị “tuột” khi bạn đang mang trên vai để đi bộ.

Về hệ thống chống rung, tôi đã thử những setting khác nhau nhưng cuối cùng vẫn thấy tốt hơn khi tắt nó hoàn toàn “OFF”.

Để đánh giá tổng quát, tôi thích chiếc Sigma ở những điểm: nhẹ cân, rẻ tiền, tương đối gọn, phẩm chất khá tốt; ngược lại, tôi không thích nó ở những điểm: hướng xoay để zoom ngược chiều với những ống kính hiệu Nikon - khó làm quen, vòng cổ để gắn tripod làm cản trở tay cầm và không cân đối, đôi khi chậm trong hoàn cảnh thiếu ánh sáng.

Nói chung, nếu bạn là một tay ảnh mới bước đầu vào thể loại chụp thú hoang dã, ống kính này thật sự quá tốt cho bạn.

2/Hoang đường về số MP (Kỳ 145)



Tin đồn rằng Canon đang chế tạo một máy DSLR với số megapixel cực cao, một nguồn đáng tin cậy đã cho rằng Canon không những có một máy pro DSLR đang sản xuất với một sensor lớn cỡ 75 MP, mà họ đã đem chụp thử ở ngoài rồi. Mặc dù Canon không bình luận về tin đồn, nhưng khả năng tạo ra những sensors có độ phân giải cực cao không phải là điều bí mật. Nếu trên đời có một máy ảnh như vậy, những tay chụp ảnh sẽ có một lựa chọn mới để tạo ảnh với độ phân giải càng cao với một máy ảnh cùng kích thước với những máy DSLR ngày nay.

Nguồn tin và những lời đồn rốt cuộc đã nói đúng! Canon đã cho ra máy 5D MkIII với độ phân giải cao trên thị trường hiện tại, nhưng điều này có thể cũng sẽ khơi diễn một “cuộc đua megapixel” giữa các hãng làm máy ảnh? Và, thật sự chúng ta có cần nhiều megapixels như vậy không? Vấn đề của megapixels là nó có một lịch sử rắc rối, nhưng một cuộc đua megapixel mới thì chưa chắc sẽ diễn ra. Đây là tại sao.
Cuộc đua đã sinh ra chuyện hoang đường

Nếu bạn còn nhớ cuộc đua megapixel khi máy ảnh digital mới ra đời? Và nếu bạn đã từng mua máy ảnh digital từ thời 1998, chắc hẳn bạn sẽ nhớ. Megapixels trong máy ảnh thì quan trọng, nhưng nó cũng đã trở thành một trong những sự mơ hồ lớn nhất trong kỹ thuật nhiếp ảnh số.
Trong một thời gian, kéo dài gần hết thập niên rồi, các công ty máy ảnh đã ráng “phỗng tay trên” nhau bằng cách tăng độ phân giải năm này qua năm nọ. Một máy ảnh 1.3 MP thuộc hạng “xịn” trong năm 2001 sẽ bị “cho ra cửa” vài tháng sau bởi một máy 2 MP, và v.v... Bởi vì các công ty máy ảnh quảng cáo món hàng của họ khá “nhiệt tình” với sự nhấn mạnh rằng “bạn có càng nhiều megapixels thì càng tốt,” hậu quả đáng tiếc là đến ngày nay, đó là cách người tiêu thụ đã được "huấn luyện” để đánh giá và mua máy ảnh.

Chọn một máy ảnh mà chỉ dựa vào độ phân giải có thể là một điều mơ muội. Độ phân giải càng cao, độ chi tiết được ghi lại trong ảnh cũng càng cao, khi tất cả những yếu tố khác không thay đổi. Tuy nhiên, số lượng megapixel chỉ là một trong nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng tới phẩm chất ảnh. Nhiều người chủ máy ảnh đang bắt đầu nhận thức rằng chỉ một mình megapixels không xác định phẩm chất tổng quát của máy ảnh, nhưng cũng vẫn còn nhiều người chưa biết chuyện này, đơn giản là vì ý tưởng về “phải có số megapixels cao” khó thể xóa bỏ

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Hủy kết nối giữa Google, Facebook với các ứng dụng

Link bài viết:
http://echip.com.vn/huy-ket-noi-giua-google-facebook-voi-cac-ung-dung-a20150610134504232-c1077.html

         (e-CHÍP Online) – Hiện có rất nhiều trang web, ứng dụng cho phép kết nối, đăng nhập bằng tài khoản Google và Facebook rất tiện lợi. Song điều này cũng tìm ẩn nhiều nguy cơ, chẳng hạn như mật khẩu có thể bị đánh cắp.


Để hủy kết nối giữa Google, Facebook với các ứng dụng và dịch vụ web, bạn thực hiện như sau:
+ Với tài khoản Goolge: Bạn truy cập màn hình ứng dụng chạy Google Settings. Trên hộp thoại mở ra, bạn vào mục Connected apps sẽ thấy danh sách những ứng dụng có kết nối với tài khoản Google. Muốn ngắt kết nối với ứng dụng nào (chẳng hạn Feedly), bạn chạm tên ứng dụng đó rồi nhấn nút Disconnect bên dưới. Hoàn toàn tương tự, bạn có thể ngắt kết nối giữa tài khoản Google với các ứng dụng khác.
+ Với tài khoản Facebook: Bạn chạy ứng dụng Facebook. Từ giao diện chính, bạn chạm biểu tượng ba thanh ngang chọn Account Settings. Trên hộp thoại xuất hiện, bạn vào mục Apps. Lúc này màn hình Apps and Websites sẽ mở ra, bạn chạm mục Logged in with Facebook.
Tiếp theo, bạn hãy chạm ứng dụng hay dịch vụ web muốn ngắt kết nối để biết những thông tin cá nhân trên Facebook mà ứng dụng này được phép truy cập (như: profile, danh sách bạn bè, tin nhắn,…). Sau đó, bạn trượt màn hình xuống dưới cùng > nhấn Remove App¸ đánh dấu chọn mục Delete all you… activity (xóa luôn tất cả các hoạt động của ứng dụng) > nhấn Remove. Bạn nên thực hiện ngắt kết nối giữa tài khoản Facebook với những ứng dụng không đáng tin cậy để phòng ngừa việc dữ liệu, thông tin cá nhân trên Facebook bị rò rỉ.
Lưu ý: Khi nghi ngờ tài khoản bị truy cập trái phép bạn nên đổi mật khẩu ngay. Hãy kích hoạt chế độ bảo mật hai lớp cho Google, Facebook, và hạn chế kết nối hai tài khoản này với những ứng dụng khác!
TL

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

Kỹ thuật chụp ảnh phong cảnh đẹp không thể bỏ qua

Nguồn bài viết:
http://dohoafx.com/2015/05/ky-thuat-chup-anh-phong-canh-dep-khong-the-bo-qua/


Nét đẹp của phong cảnh không cố định mà luôn có sự thay đổi, theo mùa, theo thời gian. Để tránh lưu lại những hình ảnh phong cảnh nhạt nhẽo, đánh mất cái hồn của sự vật và chủ thể, hãy thử thực hiện theo những lời khuyên dưới đây từ trang Exposure Guide. Đó rất có thể là những kỹ thuật chụp ảnh phong cảnh đẹp mà bạn đang cần.

Tạo chiều sâu cho bức ảnh

Khi bạn chụp một bức ảnh phong cảnh, hãy thử tạo cảm giác về chiều sâu cho bức ảnh đó bằng cách lấy nét nhiều yếu tố khác nhau trong hình ảnh. Để làm điều này bạn cần phải sử dụng một khẩu độ nhỏ, từ f/16 – f/22 bởi vì khẩu độ càng nhỏ thì độ sâu trường ảnh sẽ càng lớn.
Kỹ thuật chụp ảnh phong cảnh đẹp không thể bỏ qua
Bạn nên đặt máy ảnh trên một chân máy để tránh máy bị rung khi chụp và cũng cần lưu ý rằng, khi sử dụng khẩu độ nhỏ hơn có nghĩa ánh sáng sẽ ít hơn khi đi vào thấu kính do đó bạn cần bù sáng cho ảnh bằng cách tăng giá trị ISO hoặc kéo dài tốc độ màn trập, hoặc cả hai.

Sử dụng ống kính góc rộng

ky_thuat_chup_anh_phong_canh_dep_khong_the_bo_qua_2-550Ống kính góc rộng khá được ưa chuộng khi sử dụng chụp ảnh phong cảnh, giúp có được góc nhìn rộng hơn mang lại cảm giác không gian được rộng mở. Chúng cũng vẫn giúp mang đến chiều sâu cho hình ảnh và cho phép bạn sử dụng tốc độ màn trập nhanh hơn vì có nhiều ánh sáng hơn. Chụp ảnh ở khẩu độ f / 16 sẽ làm cho cả chủ thể phía trước và nền phía sau được sắc nét. Hãy nhớ và thử áp dụng để thấy những góc độ thú vị của những bức ảnh.

Sử dụng bộ lọc (Filter)

ky_thuat_chup_anh_phong_canh_dep_khong_the_bo_qua_3-550
Để có được những bức ảnh phong cảnh tuyệt vời nhất, bạn có thể sử dụng hai filter. Bộ lọc phân cực giúp mang lại bầu trời xanh sâu hơn và tương phản với màu trắng của những đám mây. Bộ lọc cường độ trung bình ND (Neutral Density Filter) giúp giảm lượng ánh sáng đi vào ống kính của máy ảnh nhưng không làm thay đổi cân bằng màu sắc. Điều này rất hữu ích vào những ngày trời sáng, khi máy ảnh không thể điều chỉnh tốc độ màn trập chậm (khi bạn muốn chụp sự chuyển động của bầu trời hoặc nước chẳng hạn).

Chụp chuyển động

ky_thuat_chup_anh_phong_canh_dep_khong_the_bo_qua_4-550
Nếu bạn đang muốn chụp một dòng nước đang chảy, bạn có thể tạo hiệu ứng nước trắng tuyệt đẹp bằng cách đặt độ phơi sáng dài. Có hai cách để làm điều đó bạn có thể áp dụng. Một là sử dụng chế độ Tv hoặc S, chọn độ phơi sáng là 2 giây hoặc lâu hơn. Hoặc bạn cũng có thể sử dụng chế độ AV (Aperture-Priority) và chọn một khẩu độ nhỏ như f / 32 (đòi hỏi nhiều ánh sáng hơn). Nếu bạn chụp với ánh sáng ban ngày, bạn phải sử dụng một bộ lọc ND để giảm lượng ánh sáng va vào máy ảnh, và bằng cách này, máy ảnh sẽ có thời gian màn trập lâu hơn. Một Tripod trong trường hợp này cũng rất cần thiết để đảm bảo độ sắc nét cho ảnh chụp.

Sử dụng mặt nước như một tấm gương lớn

Nước trong ánh sáng dịu có thể tạo ra các hiệu ứng phản chiếu rất đẹp. Bạn nên áp dụng loại ảnh này vào trong hai “giờ vàng” đó là thời điểm giờ đầu tiên sau khi mặt trởi mọc và giờ cuối cùng trước lúc mặt trời lặn.
ky_thuat_chup_anh_phong_canh_dep_khong_the_bo_qua_5-550
Bạn nên đặt máy ảnh trên một tripod và thiết lập chế độ TV hoặc S (Shutter-Priority). Chọn tốc độ màn trập chậm, máy sẽ đặt khẩu độ phù hợp. Nếu bạn muốn có được hình ảnh sắc nét, bạn có thể đẩy ISO lên mặc dù ISO 125 là một mức khá tốt.

Đừng quên yếu tố con người

ky_thuat_chup_anh_phong_canh_dep_khong_the_bo_qua_6-550
Một bức ảnh phong cảnh không có nghĩa chỉ bao gồm cảnh và những vật vô tri vô giác, bạn đừng quên yếu tố con người có thể giúp mang lại một bức ảnh hoàn mỹ.
Sự xuất hiện của một đứa trẻ dễ thương hoặc một cô gái xinh đẹp bên những bông hoa. Bạn có thể áp dụng quy tắc 1/3 và sắp xếp bố cục đặt con người lệch tâm để tạo được hiệu quả tốt nhất. Chọn một tốc độ màn trập nhanh, nếu bạn muốn “đóng băng” hình hoặc một tốc độ màn trập chậm hơn nếu bạn muốn chụp sự chuyển động.

Sử dụng quy tắc một phần ba

Van.vn đã từng giới thiệu bài viết tổng hợp các quy tắc bố cục trong nhiếp ảnh trong đó có nhắc đến quy tắc một phần ba. Theo đó quy tắc này mách bạn hãy tưởng tượng ra bốn đường kẻ, hai đường theo chiều ngang và hai đường theo chiều dọc để tạo ra chín ô trên hình ảnh.
ky_thuat_chup_anh_phong_canh_dep_khong_the_bo_qua_7-550
Trong một vài trường hợp, việc đặt chủ thể chính ở vị trí trung tâm có thể giúp mang lại hiệu quả tốt, tuy nhiên bạn có thể thử sử dụng quy tắc 1/3 với việc đặt chủ thể lệch tâm tại những điểm giao cắt của các đường thẳng (còn được gọi là “Điểm mạnh”) sẽ giúp tạo được một bố cục hài hòa và dễ chịu với góc nhìn.
ky_thuat_chup_anh_phong_canh_dep_khong_the_bo_qua_8-550

Các cài đặt bạn nên áp dụng

Khi chụp ban ngày bạn có thể sử dụng một khẩu độ nhỏ hơn f / 22 để chụp hình ảnh được chi tiết và cực kì sắc nét. Nếu bạn muốn bắt chuyển động của nước hoặc của con người hay các con vật, hãy dùng filter để giảm lượng ánh sáng đi vào và thử nghiệm với tốc độ màn trập. Với dòng nước chảy bạn chọn phơi sáng ít nhất 2 giây, còn chụp sự chuyển động của con người hay động vật hãy bắt đầu với tốc độ màn 1/60. Bạn nên luôn sử dụng chân máy cho việc chụp phong cảnh.

Thiết bị nên dùng

Khi chụp dưới ánh nắng bạn nên dùng một nắp đậy ống kính để tránh bị cháy sáng. Ngoài ra, bạn có thể sử dụng một bộ lọc cường độ trung bình ND hoặc bộ lọc phân cực để giảm sự phản xạ và làm nổi bật bầu trời.
Như đã đề cập ở phần trên, một chân máy là thiết bị cần thiết nếu bạn muốn chụp những bức hình sắc nét hay chụp chuyển động. Việc sử dụng đèn flash sẽ giúp các vùng tối được sáng hơn khi chụp phạm vi gần.
Với nhiều người, chụp phong cảnh đã trở thành niềm đam mê không thể từ bỏ. Với loại hình nhiếp ảnh này, bạn có thể dành cả ngày trời và đắm mình vào thiên nhiên. Bạn cũng cần rèn luyện tính kiên nhẫn bởi có khi phải đợi chờ rất lâu để có được điều kiện về ánh sáng và bố cục ưng ý và cũng không được nản lòng khi mọi thứ không được như mình mong muốn.
Nhiều bức ảnh chụp phong cảnh tuyệt đẹp đã được chủ nhân của nó dành nhiều thời gian và công sức mới có được và những bức hình đó xứng đáng với những gì bỏ ra. Hy vọng những kỹ thuật chụp ảnh phong cảnh đẹp vừa giới thiệu trên đây cùng sự kiên nhẫn thực hành sẽ giúp bạn phát triển các kỹ năng và tạo ra được những bức ảnh ấn tượng của riêng mình.
Van.vn (Theo Exposure Guide)

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2015

10 Lỗi thông thường trong nhiếp ảnh

Nguồn:

http://baotreonline.com/Chuyen-muc-tre/Goc-nhiep-anh/10-li-thong-thng-trong-nhip-nh-k-133.html

Tác Giả
Andy Nguyễn



Tác Giả
Andy NguyễnTác Giả Andy Nguyễn

Bạn vừa mua chiếc máy chụp hình DSLR và hăng hái đem nó ra để thử. Có lẽ bạn đã đem nó ra ngoài chụp thử vài ngày hoặc vài tuần và bất thình lình bạn không còn hứng thú nữa. Vì sao?

Vì bạn dường như không tận dụng được tất cả những gì bạn muốn từ cái máy DSLR ngon lành. Bạn có thể đã bỏ ra biết bao nhiêu giờ để lên mạng hay “lặn lội” để tìm một máy DSLR tốt nhất mà có thể chụp những hình đẹp nhất bạn muốn. Và nếu bạn cảm thấy “bực bội” về điều này thì bạn hãy nhớ lấy câu này: “Bạn chỉ thất bại học hỏi nếu bạn không học hỏi từ thất bại.” – Stella Adler

Vậy hãy chuẩn bị học về 10 lỗi thông thường mà bạn có thể đã phạm và làm cách nào để tránh những lỗi đó.

1. Sai Cân Bằng Trắng

Lỗi đầu tiên là để sai Cân Bằng Trắng (White Balance). Chúng ta nhìn thấy trắng trong tất cả mọi môi trường ánh sáng, nhưng máy ảnh thì không. Bạn phải hướng dẫn máy ảnh để biết nguồn sáng của cảnh vật trước mắt bạn muốn chụp.

Ví dụ bạn đang chụp dưới ánh nắng mặt trời, và nếu bạn để Cân Bằng Trắng của máy ảnh ở Cloudy thì cảnh sẽ hoá thành màu cam. Ngược lại nếu bạn đang chụp trong lúc trời có mây và máy ảnh của bạn được để Cân Bằng Trắng ở vị trí Daylight thì cảnh vật sẽ bị phủ một màu xanh.

Cách giải quyết: Cũng may những máy ảnh số hiện đại nhất có khả năng chỉnh Cân Bằng Trắng tự động khá tốt, trong trường hợp này bạn có thể dùng setting Auto White Balance mặc dù cách này chỉ đúng 99 phần trăm. Còn lại 1% kia, bạn nên chụp trong dạng RAW, để có thể sửa lại White Balance trong giai đoạn post processing.



Không nên đặt chủ thể ngay giữa khung.Không nên đặt chủ thể ngay giữa khung.

2. Bị lố ánh sáng
Nên nhớ rằng tầm phân biệt ánh sáng của mắt con người rộng hơn của máy ảnh rất nhiều. Tầm phân biệt ánh sáng là tỷ lệ giữa độ sáng tối đa trên độ tối tối đa của một cảnh.

Bạn có thể nhìn thấy chi tiết trong cả hai vùng sáng nhất và vùng tối nhất, nhưng máy ảnh sẽ không thể ghi lại tất cả những chi tiết đó. Bạn là một người chụp ảnh, trách nhiệm của bạn là “điều chỉnh” ánh sáng thế nào để vừa mắt người xem hình. Mắt người thường bị nhạy với những điểm chói hơn những điểm tối. Những điểm bị lố ánh sáng trong tấm ảnh không được mắt người chấp nhận bằng những điểm đen.

Cách giải quyết: Chỉnh ánh sáng để những điểm đó không bị lố, trừ khi bạn đang cố ý làm điều đó. Gần như tất cả máy DSLR đều có đặc điểm báo hiệu chỗ lố ánh sáng bằng cách chớp tắt khi bạn xem lại hình trên màn ảnh máy. Nếu hình đó có những chấm chớp tắt, bạn sẽ cần chỉnh ánh sáng tối lại cho đúng.

3. Chủ thể nằm ở giữa

Một khuynh hướng cho những người mới bắt đầu chụp ảnh là để chủ thể ngay giữa khung ảnh, kết quả là tấm ảnh nhìn thấy chán, thiếu sinh động. Người xem hình không có gì khác để nhìn và mắt của họ đi thẳng tới chủ thể và bị kẹt cứng ở đó.

Cách giải quyết: Áp dụng Luật 1 phần ba và tránh để chủ thể của bạn ở giữa khung. Một chủ thể nằm một bên (khác điểm giữa) làm cho hình  sinh  động hơn và khoảng trống trong hình gây sự chú ý.

4. Lấy nét sai

Bất cần tấm ảnh của bạn tốt cỡ nào về mặt kỹ thuật, nếu focus không đủ sắc bén, thì tấm ảnh của bạn không đủ tiêu chuẩn. Chủ thể chính của ảnh cần phải rõ nét, nếu không người xem sẽ bị “lạc lối” và không tìm được một điểm để “nghỉ” con mắt. Chúng ta nhìn thấy vật thể rõ trong thực tế nên cũng muốn có thể cảm nhận được tấm ảnh.

Cách giải quyết: Xem lại ảnh của bạn sau khi chụp bằng cách zoom gần vào trên màn ảnh phía sau. Nếu chụp ảnh chân dung, thì focus vào con mắt của người mẫu (hoặc chim hay thú), vì người xem hình cần tiếp xúc ánh mắt.

5. Khoảng trống để… thở

Tôi thường thấy nhiều người cố gắng làm đầy khung ảnh với chủ thể ưa thích nhất của họ để nó nhìn thấy lớn trong khung hình. Nhưng có bao nhiêu lần bạn có cảm giác nó bị dồn nhét trong diện tích của khung ảnh? Nó nhìn có vẻ bị  “nghẹt thở” bởi vì trong đó không có khoảng trống để… cựa quậy, đừng nghĩ tới chuyện di động, trong đó không có chỗ để thở luôn! Đôi khi sẽ có khoảng trống giữa chủ thể và khung, nhưng ở ngược hướng - điều này cũng không tốt.




Một ảnh chân dung của chim Choi Choi Nhiếp, có áp dụng bố cục theo Luật 1/3 và chừa khoảng trống phía trước để chủ thể… thở. Photo: Andy NguyễnMột ảnh chân dung của chim Choi Choi Nhiếp, có áp dụng bố cục theo Luật 1/3 và chừa khoảng trống phía trước để chủ thể… thở. Photo: Andy Nguyễn

Cách giải quyết: Luật 1/3 là kỹ thuật bố cục tốt nhất để có thể giúp bạn chừa đủ khoảng trống xung quanh chủ thể. Tưởng tượng khung ảnh như một cái thùng kín không có lỗ thoát, bạn đâu muốn chủ thể ưa thích của bạn bị nghẹt thở phải không?

6. Hậu cảnh bừa bộn
Đây có thể là lỗi thông thường nhất trong tất cả lỗi. Tại sao? Là vì, rất thường xuyên, người chụp có xu hướng bấm nút chụp ảnh ngay khi họ thấy những gì đẹp mắt hoặc thú vị. Có lẽ, bạn bị “áp đảo” bởi chủ thể chính, và không hề để ý đến những gì xung quanh nó, nhất là sự chú ý về hậu cảnh. Một hậu cảnh bừa bộn hoặc hậu cảnh “rối” đóng vai trò chính trong việc làm hỏng ảnh.

Cách giải quyết: Quá trình chụp ảnh thật sự bắt đầu sau khi bạn chọn chủ thể. Hãy để ý tới những phần còn lại trong khung cảnh; chỉ lấy những gì bổ sung chủ thể của bạn và loại ra mọi thứ khác. Hậu cảnh làm nên tấm hình. Một hậu cảnh sạch sẽ làm chủ thể của bạn nổi bật lên, biến nó thành điểm chủ yếu đối với người xem.




Tấm ảnh được chụp với hậu cảnh "sạch tối đa", làm nổi bật tất cả màu sắc sặc sỡ của chủ thể. Photo: Andy NguyễnTấm ảnh được chụp với hậu cảnh "sạch tối đa", làm nổi bật tất cả màu sắc sặc sỡ của chủ thể. Photo: Andy Nguyễn

7. Đường chân trời xéo
Thêm một lỗi mà thường trực xảy ra là đường chân trời không được ngang thẳng. Đây là một điều quá đơn giản để chú ý nhưng vẫn còn có cả một đống hình bị chân trời xéo!

Người xem có cảm giác “khó chịu” khi tấm ảnh mà đường chân trời bị xéo. Chứng tỏ rằng những chủ thể đứng theo chiều dọc nên đứng thẳng góc so với mặt đất. Người, tòa building, con chim, hoặc thân cây nghiêng về một bên sẽ làm vật đó có nguy cơ bị ngã xuống (trừ khi vật đó bị nghiêng trong thực tế như tòa tháp nghiêng nghiêng!)

Cách giải quyết: Dùng đường kẻ ô khi bạn đặt bố cục lúc đi chụp, hoặc sửa đường chân trời sau khi chụp (trong máy vi tính) . Tìm một vật gì có đường ngay hoặc dọc trong thực tế, và dùng vật đó để làm điểm mốc khi bạn muốn sửa thẳng tấm ảnh. Một tấm ảnh đẹp bị hỏng vì đường chân trời xéo, làm người xem bị khó chịu.


Đường chân trời “lên dốc” (nhất là những tấm ảnh có đường chân trời trên mặt nước) là một trong những điều tối kỵ trong nhiếp ảnhĐường chân trời “lên dốc” (nhất là những tấm ảnh có đường chân trời trên mặt nước) là một trong những điều tối kỵ trong nhiếp ảnh

8. Thiếu chiều sâu
Nên nhớ, nhiếp ảnh là một môi giới 2-chiều nhưng người chụp chỉ nhìn thấy sự vật theo 3-chiều. Những người chụp ảnh thường thiếu sót chiều sâu vốn có trong nhiếp ảnh. Bạn thấy một cảnh tuyệt đẹp trong không gian 3-chiều và bạn chụp cảnh đó, nhưng bạn lại gãi đầu thắc mắc không hiểu nó bị gì khi bạn xem lại hình trên màn ảnh monitor. Có một cái gì đó bị thiếu sót. Đây không phải là khung cảnh bạn đã thấy. Tại sao? Bạn đã không suy nghĩ rằng bạn đang chụp một cảnh 3-chiều với một tấm ảnh 2-chiều.

Cách giải quyết: Có nhiều cách để tạo chiều sâu trong ảnh - bao gồm một vật ở tiền cảnh (gần hơn chủ thể), dùng đường dẫn mắt, thay đổi khía cạnh, vân vân… Nhưng điều quan trọng nhất là nhớ rằng khi bạn đi ra ngoài chụp, tấm ảnh chỉ là một môi giới 2-chiều. (Thường bạn sẽ nghe câu hỏi: “Tại sao tui nhìn thấy mập hơn trong hình? Đây là chính xác lý do tại sao! )

9. Quá nhiều thứ trong tấm ảnh

Quá nhiều bất cứ điều gì thì không tốt. Khi bạn thấy một khung cảnh, bạn nhìn thấy nó như một cảnh tổng quát, điều này cũng tự nhiên thôi. Nhưng nếu bạn cố gắng lấy vào ảnh mọi thứ bạn thấy trong cảnh, rốt cuộc bạn sẽ có một tấm ảnh với quá nhiều  chi tiết làm chi phối.

Cách giải quyết: Thử với những bố cục đơn giản. Thay vì chụp một ảnh của toàn cảnh đó, tự hỏi mình vật gì làm bạn thú vị nhất và chụp tấm ảnh để nhấn mạnh chỉ chủ thể đó thôi. Một khi bạn đã thông thạo với những bố cục đơn giản này, bạn sẽ có thể chụp những phong cảnh lớn bằng một phương pháp đơn giản hơn nhiều, nhưng lại thú vị hơn.

10. Ánh sáng xấu

Nhiếp ảnh là nói về ánh sáng. Không có ánh sáng có nghĩa không có nhiếp ảnh. Nhưng ánh sáng có phẩm chất và chiều hướng. Những tấm ảnh tốt nhất thường được chụp trong những “giờ vàng” và một thời gian ngắn trước khi mặt trời mọc và sau khi mặt trời lặn khi có ánh sáng tốt nhất. Nhiều tay ảnh có vẻ không màng đến hướng ánh sáng và phẩm chất ánh sáng chút nào. Một là ánh sáng bị quá chói đến nỗi có nhiều đốm sáng và tối trong khung cảnh, hoặc cặp mắt của người mẫu bị nằm trong bóng tối, hoặc ánh sáng quá “flat”, mỏng như tờ giấy, và những trường hợp khác.

Cách giải quyết: Bạn nên nhớ nhiếp ảnh liên quan tất cả đến ánh sáng. Nếu bạn càng học cách xác nhận ánh sáng, bạn sẽ càng trở thành một tay chụp ảnh giỏi hơn bạn nghĩ!

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015

Hướng dẫn cân bằng trắng khi chụp ảnh

Nguồn bài viết:

http://vuanhiepanh.com/news/Do-sang/Huong-dan-can-bang-trang-khi-chup-anh-392.html

Bài viết sau đây sẽ hướng dẫn từng bước một rất cụ thể, và bạn sẽ thấy thiết lập đúng WB cũng không phải là điều gì quá ghê gớm Cân bằng trắng (White Balance - WB) là một trong những thông số quan trọng nhất của máy ảnh. Hãy thử tưởng tượng bạn đang định chụp một khung cảnh tuyệt đẹp trên bãi biển với từng đợt sóng nhẹ nhàng xô trên bờ cát vàng mênh mông. Bạn nghĩ chắc chắn với chiếc máy mình đang cầm trên tay cùng điều kiện đủ sáng hoàn hảo như vậy sẽ tạo nên một bức ảnh toàn mỹ. Nhưng chưa chắc đã như vậy đâu, trong những hoàn cảnh có nhiều nguồn sáng hoặc nhiều vật thể với màu sắc phức tạp khác nhau, chế độ WB Auto của máy ảnh rất dễ bị nhầm lẫn. Và kết quả là ta sẽ có những tấm hình có màu sắc khác hoàn toàn với phiên bản gốc. Vậy phải làm thế nào để khắc phúc tình trạng đáng ghét này?

1. Nhiệt độ màu

 
Để hiểu được khái niệm và cách thức hoạt động của chế độ WB, trước hết bạn phải nắm được một số kiến thức căn bản nhất về nhiệt độ màu. Có thể hiểu nôm na nhiệt độ màu là một cách biểu hiện của những chùm ánh sáng có thể nhìn thấy được. Như bạn thấy, quanh ta có rất nhiều loại ánh sáng với nhiều màu sắc khác nhau, đa phần sự khác biệt này là do cường độ nguồn phát sáng. Dựa vào đó, người ta phân ra nhiều thang đo nhiệt độ màu, với đơn vị là độ K (Kelvin). Một nguồn sáng có nhiệt độ sáng càng cao sẽ càng phát ra ánh sáng có màu xanh hơn và có giá trị độ K cao hơn so với nguồn sáng yếu có màu đỏ dần. Bảng thống kê dưới đây sẽ cho bạn thấy rõ hơn về 9 mức nhiệt độ màu khác nhau, tương ứng với mỗi nấc là một ví dụ cho bạn dễ nắm bắt.





Ánh sáng nến: 1000-2000 K
Ánh sáng đèn bóng tròn: 2500-3000 K
Ánh nắng mặt trời lúc bình minh/hoàng hôn: 3000-4000 K
Ánh sáng đèn huỳnh quang: 4000-5000K
Ánh sáng đèn Flash: 5000-5500 K
Ánh nắng mặt trời lúc bình thường: 5500-6500 K
Ánh nắng mặt trời giữa trưa: 6000-7000 K
Trời có mây, bóng râm: 6500-8000 K
Trời trong xanh: 10000-15000 K
 

2. Ánh sáng có ảnh hưởng tới màu sắc như thế nào?

 
Nếu là người hay chụp ảnh, hẳn đã ít nhất một lần bạn gặp phải tình huống ảnh bị ngả màu vàng/cam khi chụp dưới ánh đèn bóng tròn (đèn Vonfram, Tungsten), hoặc ngả mà xanh nhạt khi chụp trong phòng dùng đèn huỳnh quang. Tình trạng này xảy ra là vì mỗi nguồn sáng đều phát ra một nhiệt độ màu khác nhau. Một máy ảnh kỹ thuật số có thể đo được các màu như đỏ, xanh lá, xanh lam trong một chùm sáng tới cảm biến. Một bức ảnh được chụp dưới ánh sáng mặt trời ban ngày sẽ có đầy đủ các bước sóng trong một quang phổ (tức là ánh sáng trắng). Vì vậy, khi chụp dưới ánh đèn bóng Vonfram mà không chỉnh nhiệt độ màu về đúng nấc sẽ có hiện tượng trên do chùm sáng phát ra từ bóng đèn loại này có bước sóng khác với ánh sáng trắng (được tạo nên bởi 7 màu cơ bản). Một mẹo nhỏ để bạn dễ nhớ và áp dụng là nguồn sáng có nhiệt độ càng cao (ngọn lửa đèn khò, bếp ga) thì phát ra ánh sáng càng xanh, nguồn sáng có nhiệt độ càng thấp ( ngọn nến, đèn dầu) thì ánh sáng càng đỏ.


3. Vì sao phải chỉnh WB?

 
Như đã nói ở phần trên, mỗi nguồn sáng có một màu sắc khác nhau, tùy thuộc vào chúng thuộc khoảng bước sóng nào trong quang phổ vạch. Những nguồn sáng nhấn tạo hầu hết đều có nhiệt độ màu thấp và lượng nhiệt nhỏ hơn ánh sáng mặt trời. Những chùm sáng này vì thế có bước sóng nhỏ, và thuộc dải sáng đơn sắc màu đỏ (nằm trong khoảng 0.644 đến 0.76 micromet). Khi đi vào cảm biến máy ảnh, chúng sẽ được những tế bào sáng màu đỏ trong hệ màu RGB của cảm biến hấp thụ. Chính vì thế bức ảnh sẽ bị ngả màu cam hoặc vàng tùy vào mức độ ánh sáng.
 
Máy ảnh số, những cảm biến cùng vi xử lý hình ảnh đắt giá tới hàng chục triệu cũng vẫn là máy móc nên không thể nào có khả năng kỳ diệu như con mắt của loài người được. Mắt của chúng ta cùng hệ thần kinh thị giác có khả năng tự động điều chỉnh khi tiếp xúc với những nguồn sáng và nhiệt độ màu khác nhau để hiển thị về màu sắc một cách trung thực chỉ trong một tíc tắc rất nhỏ. Một chiếc camera thì không thông minh đến vậy, nên khi rơi vào những trường hợp ánh sáng phức tạp, ta phải tự điều chỉnh nó cho phù hợp với môi trường xung quanh.
 

4. Thiết lập thông số về WB





Auto: Chế độ tự động cân bằng trắng có trên mọi máy ảnh số ngày nay, và trên hầu hết các mẫu smartphone, được ký hiệu là AWB. Theo thời gian, cùng với sự tiến bộ của công nghệ, các máy ảnh số ngày càng thông minh hơn, nên sử dụng AWB trong đa số trường hợp đều cho ra màu sắc chuẩn hoặc sai khác có thể chấp nhận được. Tuy nhiên nếu cảm thấy không hài lòng khi sử dụng chế độ này, bạn nên chuyển qua dùng các thiết lập khác cho phù hợp.
 
Tungsten: Bạn nên dùng preset này khi chụp trong nhà, dưới ánh đèn bóng tròn Vonfram. Màu sắc của bức ảnh sẽ bớt bị ngả vàng, và dịu đi thấy rõ khi bạn sử dụng.
 
Fluorescent: Ngược lại với Tungsten, thiết lập chế độ này sẽ làm tông màu sáng và ấm hơn. Bức ảnh của bạn sẽ không còn ám màu xanh ảm đạm nữa.
 
Daylight: Dùng khi chụp ngoài trời, dưới ánh sáng mặt trời có cường độ bình thường, không quá chói chang. Hiện tại, chỉ có một số máy ảnh có preset này mà thôi.
 
Cloudy: Khi chụp ngoại cảnh trong một ngày nhiều mây, hãy nhớ đến chế độ này. Tác phẩm của bạn trông sẽ tươi tắn, tràn đầy sức sống hơn bình thường.
 
Flash: ánh đền Flash có nhiệt độ màu rất cao, rất dễ gây hiện tượng cháy sáng nếu không biết cách sử dụng. Khi kích hoạt chế độ này cảm biến sẽ tự động điều chỉnh để tiếp nhận ánh sáng đều hơn giữa vùng có và không có Flash.
 
Shade: chụp trong bóng râm làm ảnh bị tối và ảm đạm hơn những gì mắt ta nhìn khung cảnh thực. Chế độ Shade sẽ làm tăng độ ấm áp cho tấm hình.
 

5. Chỉnh WB thủ công

 
Nếu tất cả những preset trên vẫn chưa đưa ra được một kết quả có thể chấp nhận được thì đã đến lúc bạn phải ra tay điều chỉnh WB. Có rất nhiều cách để làm điều này, nổi tiếng hơn cả vẫn là phương pháp grey card – sử dụng một tấm thẻ có màu xám chuẩn được in ra để thiết lập làm mẫu. Tuy nhiên, điều này khá là phiền phức vì không phải ai cũng muốn kè kè tấm thẻ đó bên người, dưới đây sẽ là một phương pháp khác linh hoạt hơn, nhưng về nguyên lý thì không có gì khác grey card. Bạn hãy tìm một vật thể nào thật trắng để chụp lại làm mẫu. Sau đó chỉnh thiết lập trong máy ảnh lấy màu trắng bạn vừa chụp được làm WB chuẩn. Rất đơn giản, chỉ có vậy là xong. Từ đó trở đi, máy của bạn đã có thể phân tích được trong môi trường hiện tại thì màu trắng chuẩn là như thế nào, để từ đó có thể nhận định chính xác những màu sắc khác. Tất nhiên, khi di chuyển đến một khung cảnh có điều kiện sáng khác, bạn lại phải thực hiện lại thao tác này. Nhưng tốn vài giây để có hàng chục tấm hình đẹp thì không đáng kể gì cả.





Kết luận

 
Hãy bỏ ngoài tai những lời nhận xét đầy tính mỉa mai rằng sử dụng AWB hoặc những preset có sẵn trong máy chỉ dành cho những tay mơ. Thực tế, trong hầu hết trường hợp, những thiết lập trên đều hoạt động hoàn hảo, và không phải lúc nào bạn cũng có thời gian để kịp chỉnh tay chế độ WB. Vì thế, hãy sử dụng thành thạo những preset có sẵn trong máy cho quen tay trước khi tập tành chế độ manual, vì xét cho cùng cái đich mà chúng ta hướng tới đều là một tấm hình đẹp mà thôi.

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

Droid Over Wifi: Chuyển dữ liệu giữa máy tính và điện thoại qua Wi-Fi

Droid Over Wifi: Chuyển dữ liệu giữa máy tính và điện thoại qua Wi-Fi

Dành cho các bạn thích vọc(và phải có tài khoản google nhé).
Nguồn: http://echip.com.vn/droid-over-wifi-chuyen-du-lieu-giua-may-tinh-va-dien-thoai-qua-wi-fi-a20150130164232220-c1049.html

(e-CHÍP Online) - Nếu điện thoại và laptop cùng kết nối mạng Wi-Fi, bạn có thể dùng Droid Over Wifi chuyển dữ liệu giữa hai thiết bị này nhanh chóng.


Nhà phát triển: Dmitri Lapushkin.
Tương thích: Android 2.3 trở lên.
Phiên bản mới nhất: 1.6.3.
Dung lượng: 984KB.
Giá: Miễn phí.
Đánh giá: 4,2 sao.





Từ giao diện chính của ứng dụng, bạn chạm nút OFF để bật chế độ kết nối. Ngay lập tức, bạn sẽ nhận được địa chỉ truy cập và mã pin để kết nối > nhấn OK. Trên máy tính, bạn mở trình duyệt web, nhập địa chỉ vừa nhận được > nhấn Enter > nhập mã pin > nhấn Sign in. Khi đăng nhập thành công, bạn có thể duyệt toàn bộ dữ liệu trên điện thoại qua giao diện web, toàn quyền xem, xóa, sao chép, đổi tên file,… Cây thư mục bên trái cho phép bạn duyệt file theo danh mục phân loại (như: Gallery, Pictures, Movies, Music,…).

- Upload dữ liệu từ máy tính sang điện thoại: Bạn nhấn nút Upload trên thanh công cụ. Hộp thoại mở ra, bạn nhấn File > Choose để chọn upload từng file, hay nhấn Folder > Choose chọn upload nguyên thư mục. Diễn tiến quá trình upload sẽ được thể hiện ở pop-up góc phải phía dưới giao diện.
Lưu ý: Khi chuyển dữ liệu xong, bạn nhớ nhấn nút ON trên giao diện Droid Over Wifi để tắt kết nối.


Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2015

Giải thích về độ nhạy ISO (kỳ 125)

Tác giả Andy NguyễnTác giả Andy Nguyễn

Có thể bạn đã quen thuộc với ISO trên những cuốn phim dùng trong máy chụp phim lúc xưa. Đó là “tốc độ” của phim, hoặc “độ nhạy” của phim – giá trị ISO cao hơn cho phép bạn chụp hình trong những trường hợp thiếu ánh sáng.

Nhưng, còn trong thế giới máy ảnh số (digital)?


Trên những máy ảnh số có một chỗ để chỉnh độ ISO. Và mặc dù không còn chụp bằng phim nữa, độ ISO vẫn còn đóng một vai trò quan trọng.
ISO biểu thị độ nhạy của máy ảnh số đối với ánh sáng. Số càng cao, càng ít ánh sáng cần thiết để chụp tấm hình (không quá tối hoặc không quá sáng).Trong lúc trời sáng chói (như 12 giờ trưa khi có nắng), thường thì bạn sẽ dùng độ ISO 50 hoặc ISO 100. Những settings thấp nhất này có thể dùng được vì bên ngoài có dư ánh sáng.




Tuy nhiên, trong những trường hợp thiếu ánh sáng, máy ảnh của bạn sẽ cần “phụ” chút ít. Có hai cách để làm chuyện này:
- Giảm tốc độ cửa chập
Với một tốc độ chậm hơn, máy ảnh sẽ có hơn thời gian để “thấm vào” lượng ánh sáng nó cần. Tiếc thay, với tốc độ cửa chập càng chậm, hình của bạn sẽ có nhiều cơ hội hơn để bị mờ (nhòa).
- Tăng ISO
Thay vì giảm tốc độ cửa chập, bạn có thể tăng ISO, điều này sẽ tăng độ nhạy của máy ảnh; có nghĩa bạn có thể chụp một tấm ảnh với ít hơn ánh sáng lọt vào máy ảnh. Do đó, tốc độ cửa chập có thể đủ cao để tránh bị mờ hình. Cũng như tăng ISO sẽ nâng cao tốc độ cửa chập, một độ ISO cao cũng sẽ giúp khi bạn muốn chụp những môn thể thao nhanh, như đua xe. Bạn sẽ có được những tấm hình rõ, bén mà không bị nhòa.
Tuy nhiên, tôi vẫn đề nghị bạn dùng độ ISO thấp nhất khi thuận tiện. Tại sao?
Trở ngại khi dùng ISO cao
Bạn dùng ISO cao khi máy ảnh có ít ánh sáng để chụp hình. Rất tiếc, điều này cũng có nghĩa là “hột” (noise) sẽ bị đưa vào ảnh của bạn. Liên tưởng như khi bạn bấm TV qua một đài không có sóng, sẽ có rất nhiều hột li ti trên màn ảnh.
Những con số ISO cao nhất của máy ảnh bạn sẽ tạo nên rất nhiều noise trong ảnh của bạn, hãy tránh dùng những số đó trừ khi ánh sáng quá thấp đến nỗi bạn không còn lựa chọn nào.


Độ nhạy sáng của ISOĐộ nhạy sáng của ISO

Thà làm hạt… noise bay
Hì hì đùa chút thôi. Thật sự, nếu tôi có sự lựa chọn, tôi thà có một tấm hình bị nhiều hột, còn hơn có một tấm hình bị mờ. Khi tấm hình bạn chụp bị mờ, thì chỉ có cách là bỏ vô… sọt rác (Trash hoặc Recycle Bin) cho rồi, vì không có Photoshop nào trên thế giới này có thể “sửa” được khuyết điểm đó. Trong khi, một tấm hình bị nhiều hột, tuy không đẹp mắt lắm, nhưng ít nhất bạn vẫn có hình “xem được”. Máy ảnh hiệu Nikon có lợi điểm vì ít bị hột hơn, gần như “láng sì cón”.
Và đây là phần chỉ dẫn căn bản để giúp bạn chọn độ ISO đúng, trong nhiều trường hợp khác nhau:
- ISO 50-100. Thích hợp cho những lúc sáng chói (ngoài trời khi có nắng trưa).
- ISO 200. Tốt cho những ngày có mây hoặc u ám.
- ISO 400 và 800. Dùng những con số này khi ánh sáng chập choạng nhưng chưa đến nỗi ban đêm.
- ISO 1600 và cao hơn. Dùng cho những lúc chụp trong nhà hoặc ban đêm. Cũng có thể hữu ích để làm “đứng” những pô hình action trong thể thao. Những giá trị này sẽ làm cho ảnh bạn bị nhiều hột nhất.


Trời bên ngoài âm u và bên trong không mở đèn, ISO 25600 mà vẫn “mịn màng”! Máy Nikon. 
Trời bên ngoài âm u và bên trong không mở đèn, ISO 25600 mà vẫn “mịn màng”! Máy Nikon.

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

Máy ảnh iPad vs. DSLR (kỳ 124)_Đọc chơi cho vui nha...

Già post lại bài này, chỉ tập trung nói về ưu&khuyết của máy ảnh chớ hông so sánh các tính năng khác trên iPad và các dòng"đa năng"tương tự nghen. Vui lòng đừng chọi đá!


Tác giả Andy NguyễnTác giả Andy Nguyễn

Chuyên mục Góc Nhiếp Ảnh do tôi phụ trách vẫn thường nhận được nhiều phản hồi bổ ích. Một độc giả, khi gặp tôi đã hỏi:  
“Anh Andy, tui không hiểu vì sao những tấm hình chụp bằng máy ảnh của iPad lại nhìn thấy có vẻ đẹp hơn hình trên máy DSLR của tui? Anh có biết không?”


Để trả lời câu hỏi của độc giả thân mến kia, tôi xin mượn một trang trong cuốn cẩm nang của chương trình MythBusters để phân tích vấn đề. Hãy đọc…



1. “Automa-lắc”
Đây là cách “móc méo” về kiểu chụp mode automatic (tự động).
Nói về chụp tự động là sự hẳn nhiên của những máy iPad (hoặc tablet nói chung). Đó là mode duy nhất nó có thể chụp ảnh. Không còn cách nào khác.
Với loại máy DSLR, có thể chụp theo mode Manual, những “scene modes”, Tv/Av, và luôn cả automatic. Trong thời buổi này, giá của những máy DSLR đã xuống khá nhiều so với trước đây; do đó nhiều người mới tập tành vẫn có thể bỏ tiền ra “ôm” một máy DSLR hiện đại về. Nhưng rồi họ làm gì: chỉ mở máy lên rồi để “automa-lắc” mà chụp. Kết quả là có lúc hình ra thấy OK, có lúc thì “ No OK”!
Còn với những máy iPad, các kỹ sư hãng chế tạo đã bỏ vào đó rất nhiều công sức để làm nó “user friendly”, tức là dễ xài. Không những dễ xài mà bạn còn thể dùng những apps để chỉnh sửa hình để làm hình ảnh “nổi” hơn, đẹp hơn nhiều.
iPad 1 - DSLR 0
2. Sự phức tạp của máy DSLR
Nếu mua máy DSLR về mà để auto chụp thì nó còn “thua” cả  máy iPad nữa. Vì vậy, việc dùng mode Manual để chụp và để hoàn toàn làm chủ máy thì ai mà chẳng muốn. Khổ nỗi, chụp mode M không phải dễ. Có biết bao nhiêu người đã gắng mò mẫm nhiều tháng trời mà vẫn…bó tay.
Nếu cách giải quyết là ghi tên vô một lớp Nhiếp ảnh căn bản, thì bạn sẽ được hướng dẫn kỹ lưỡng chụp mode M lần lượt qua từng trình độ. Nhưng chẳng phải ai cũng có điều kiện hay thời gian để theo học. Nhưng thực tế, những bài học lý thuyết vẫn luôn hữu ích, nó giúp người chủ của chiếc máy hoàn toàn “điều khiển” máy ảnh theo ý muốn. Khi đã thực sự thành thạo những kỹ thuật này thì “thành quả” sẽ làm bạn hài lòng.
Loại máy ảnh của iPad vẫn đầy những hạn chế, không thể chụp những thể loại như: chân dung (khi hậu cảnh cần phải mờ nhiều), thú hoang dã và thể thao (khi cần ống kính thật dài)
iPad 1 - DSLR 1
3. Độ phân giải của màn ảnh
Khi nói về màn ảnh thì những Retina display của hãng Apple (công ty chế máy iPad) thuộc hạng “đương kim vô địch”. Hẳn nhiên, những hình ảnh hiện lên trên màn ảnh của iPad sẽ nhuyễn hơn và đẹp hơn những màn ảnh khác. Nhưng để chứng minh điều này, bạn cần phải dựa vào những con số thực tiễn. Theo lý thuyết Pythagorean của toán học thì ta có thể tính độ phân giải (PPI, pixels per inch) qua 2 bước:
1. Tính độ phân giải đường xéo của màn ảnh
2. Tính độ phân giải trong mỗi inch
Cho rằng:
- x là độ phân giải chiều xéo màn ảnh, đơn vị = pixels
- n là độ phân giải chiều ngang màn ảnh, đơn vị = pixels
- d là độ phân giải chiều dọc màn ảnh, đơn vị = pixels
- b là kích thước chiều xéo màn ảnh, đơn vị = inches
Thí dụ:
- Một màn ảnh Retina display của máy iPad Air có độ phân giải 2048x1536 và kích thước xéo là 9.7 inches. Đáp số là 264 ppi.
- Một màn ảnh 21-inch monitor của máy computer có độ phân giải tối đa 1920x1080 và kích thước xéo là 21 inches (như đã quảng cáo). Đáp số là 105 ppi.
- Một màn ảnh 24-inch monitor thì có độ phân giải tối đa 2560x1440 pixels và kích thước xéo là 24. Đáp số là 121 ppi.
Kết quả đây là một sự so sánh không công bằng. Một mặt những hình ảnh hiện trên iPad thì rất mịn và trong, mặt khác thì những hình bạn chụp bằng máy DSLR rồi bỏ lên computer thì không thể nào nhuyễn bằng.
iPad 2 - DSLR 1
4. Tranh chấp một cách công bằng
Giả tỷ bạn đã chụp một số ảnh bằng máy DSLR của bạn, và đã có “học nghề” dùng mode Manual rồi chuyển hình qua máy iPad để xem; tôi có thể “dám chắc” với bạn rằng những hình đó sẽ đẹp hơn hình do chính máy ảnh của iPad chụp.
iPad 2 - DSLR 2
* Một lời nhắc nhở: khi muốn so sánh cái gì, nên hiểu rõ về thể chất của cả hai bên để so sánh công bằng. Và điều này dẫn đến điều kế tiếp tôi muốn nói.
5. Giá cả
Trong hai năm gần đây nhất, giá của những máy DSLR đã được hạ xuống đến mức không thể tưởng tượng được, nhờ vào những hàng như: Nikon D3X00, Canon TXi, thêm vào sự cạnh tranh của những hiệu như Panasonic, Samsung, Fuji, Sony, Olympus… Ngày nay bạn có thể ẵm về một máy DSLR hạng entry-level với giá dưới $400.
Ngược lại, để so sánh với “đối phương”, một máy Apple iPad Air tốn khoảng $499 (và cao hơn, tùy theo bộ nhớ).
iPad 2 - DSLR 3
Kết quả cuối cùng: iPad vẫn thua DSLR  ☺


Một người cầm iPad chụp hình, nhìn giống đang cầm một miếng carton; không “phong cách” như cầm một máy DSLR.Một người cầm iPad chụp hình, nhìn giống đang cầm một miếng carton; không “phong cách” như cầm một máy DSLR.

Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2014

Chụp trăng: Làm và Không làm (kỳ 120)


Nguồn bài viết ở đây:http://baotreonline.com/Chuyen-muc-tre/Goc-nhiep-anh/chp-trng-lam-va-khong-lam-k-120.html

Tác giả: Andy Nguyễn




Mặt trăng là một chủ thể rất phổ thông để chụp cho người chụp ảnh ở mọi trình độ. Nhưng nếu bạn đã từng thử chụp “chị Hằng”, có lẽ bạn cũng đã khám phá rằng cũng chẳng dễ thực hành lắm đâu. Trong bài viết này tôi và bạn hãy tìm hiểu về một vài điều nên làm và không nên làm để biến hình trăng của bạn từ hình “bấm đại” thành tác phẩm.




1.  Dùng chân máy
Một trong những đồ nghề quan trọng nhất đối với chụp ảnh buổi tối là một chân máy (tripod) tốt. Vì lẽ rằng cung trăng cách chúng ta quá xa, người chụp cần phải có một chỗ tựa vững vàng vì ngay cả một sự di chuyển mảy may trên máy ảnh sẽ làm cho tấm hình bị mờ. Có thể bạn nghĩ rằng nếu bạn dùng một tốc độ cửa chập đủ nhanh thì có thể cầm máy ảnh trên tay, nhưng người chụp cần phải nhận thức rằng chủ thể của bạn cách xa 238,900 dặm và dù một cử động nhẹ nhất sẽ bị phóng đại rất nhiều.
2. Đừng dùng tốc độ chậm
Thật sự mặt trăng bay rất nhanh vòng quanh trái đất ở tốc độ 2,288 dặm một giờ (3,683 cây số/giờ). Mặt trăng ở quá xa, nó có vẻ không bay nhanh lắm dưới mắt thường. Vì tốc độ của mặt trăng và tiêu cự dài cần thiết để chụp ảnh trăng, bạn cần dùng một tốc độ cửa chập càng nhanh càng tốt. Một quy luật căn bản để có hình trăng sắc bén là một tốc độ không chậm hơn 1/125 giây.
3. Dùng một ống kính têlê
Để thành công chụp được chi tiết của mặt trăng, bạn cần ít nhất một ống kính tele 300mm. Nếu muốn có hình toàn khung (không cắt xén), bạn sẽ cần ống kính khoảng 800mm.
4. Đừng gắn bất cứ kính lọc nào trên ống kính
Gỡ tất cả kính lọc ra khỏi ống kính của bạn! Và gỡ ngay cả UV filter. Điều này có vẻ “đáng sợ” nếu bạn không bao giờ tháo UV filter ra khỏi ống kính, nhưng trong trường hợp này thì tốt nhất nên làm vậy. Để tránh cơ hội bị hình không rõ, đừng dùng bất cứ kính lọc nào.
5. Thử nguyên tắc “Trăng 11”
Nguyên tắc “Trăng 11” tương tự như nguyên tắc “Trời Nắng 16”. Chỉnh khẩu độ của bạn qua f/11, rồi đối chiếu tốc độ cửa chập với độ nhạy ISO. Để thí dụ, nếu ISO của bạn đang ở 100, chỉnh tốc độ của bạn qua 1/125. (Đây không phải là một công thức tuyệt đối, nhưng nó sẽ cho bạn một điểm bắt đầu tốt.)
6. Đừng đụng tay vào máy
Đừng bấm nút chụp với tay của bạn, hoặc chạm chân máy của bạn khi bắt đầu bấm nút chụp ảnh trăng. Nên nhớ rằng một di động nhẹ nhất cũng đủ làm ống kính rung động và làm mờ ảnh. Dùng một dây bấm hoặc bộ phận “cách không” là cách hay nhất để bắt đầu phơi sáng. Nếu bạn không có cả hai thứ đồ nghề này, bạn có thể dùng đặc điểm tự chụp (self timer) trong máy.
7. Đừng dùng hệ thống chống rung
Bạn phải tắt IS (Image Stabilization) của Canon hoặc VR (Vibration Reduction) của Nikon mỗi khi máy ảnh của bạn đứng trên chân máy. Mở hệ thống chống rung trên ống kính của bạn khi đang gắn trên tripod sẽ làm hình của bạn bị mờ.
8. Đổi qua hệ thống lấy nét bằng tay
Có hai cách khác nhau để bạn có thể lấy nét mặt trăng. Trước tiên, thử dùng hệ thống autofocus trên máy, và một khi lấy độ nét mong muốn, tắt hệ thống lấy nét tự động và bật qua manual. Thay vào đó, bạn có thể để máy ảnh qua hệ thống lấy nét bằng tay, và với màn ảnh Live View, rọi lớn vào mặt trăng và xoay vòng focus đến khi mặt trăng thấy rõ. Rồi đừng đụng vào vòng xoay nữa.
9. Đừng lệ thuộc vào hệ thống đo ánh sáng
Rất có thể dụng cụ đo ánh sáng trên máy ảnh của bạn sẽ bị lừa bởi lượng ánh sáng phản chiếu từ mặt trăng. Cũng quan trọng để ghi chú rằng khi trăng đang lên, độ sáng của nó sẽ tiếp tục thay đổi. Trăng càng sáng hơn khi nó càng mọc cao, vậy bạn cần phải liên tục chỉnh tốc độ của bạn.
10. Thực tập, thực tập, thực tập
Đi ra ngoài để chụp trăng đi. Nên nhớ rằng điều này không dễ như bạn nghĩ, nên cứ tiếp tục cố gắng nếu kết quả đầu tiên của bạn chưa được mỹ mãn như bạn mong muốn.☺


Ảnh của Andy NguyễnẢnh của Andy Nguyễn

Thứ Ba, 9 tháng 12, 2014

Tìm hiểu thêm về khẩu độ mở (Aperture revisited)

Vì còn nhiều bạn chưa rỏ...

Nguồn bài viết này ở đây:

http://vinacamera.com/?p=195

Lưu ý các bạn xài máy du lịch, và cả máy DSLR: Tùy vào độ zoom và loại lens chứ hông phải em nào cũng có khẩu độ"bự"như trong bài viết nghen "D

APERTURE REVISITED
Rât nhiều người chơi ảnh nghiệp dư quan tâm tới hiệu ứng của việc thay đổi khẩu độ mở. VinaCamera.com có bài viết cung cấp thêm thông tin sau đây.

Khẩu độ mở (aperture) được biểu diễn bằng giá trị f/ – hay F-stop trong tiếng Anh. Giá trị f/ càng nhỏ thì khẩu độ mở càng lớn (sở dĩ như vậy vì giá trị f/ là một hệ số).  Hình 1 cho thấy các giá trị f/ thường được sử dụng.


Hình 1: Khẩu độ mở biểu diễn bằng các giá trị F-stop. F càng nhỏ, khẩu độ càng lớn.Hình 1: Khẩu độ mở biểu diễn bằng các giá trị F-stop. F càng nhỏ, khẩu độ càng lớn.

Trước tiên, ta hãy trở lại với vấn đề giá trị phơi sáng (exposure value / EV). Một bức ảnh được tạo nên bởi 3 yếu tố cơ bản là: (1) tốc độ của chập (shutter speed) – thường tính bằng phần của giây; (2) độ mở to nhỏ của lỗ điều tiết ánh sáng trên ống kính (aperture) – thường tính bằng giá trị f/ và (3) độ nhạy bắt sáng ISO của phim hay cảm biến đối với máy ảnh số. Kết hợp 3 yếu tố này lại ta được giá trị phơi sáng của một bức ảnh (xem thêm tại đây). Khẩu độ mở càng lớn thì ánh sáng lọt vào bản phim hay cảm biến càng nhiều và nếu giá trị tốc độ cửa chập và độ nhạy ISO là không đổi, khẩu độ mở càng lớn thì bức ảnh càng sáng.
Như vậy, tác dụng đầu tiên của khẩu độ mở là điều tiết ánh sáng nhiều hay ít cho một bức ảnh. Tuy nhiên, khẩu độ mở không chỉ ảnh hưởng tới mức độ sáng tối chung của ảnh mà còn ảnh hưởng tới các yếu tố khác, bao gồm:


Hình 2: Khẩu độ mở ảnh hưởng tới nhiều hiệu ứng cho bức ảnhHình 2: Khẩu độ mở ảnh hưởng tới nhiều hiệu ứng cho bức ảnh

• Chiều sâu ảnh trường (khoảng nét giữa các chủ thể xa gần máy ảnh và điểm căn nét chính). Khẩu độ mở càng lớn (f/ càng nhỏ) thì ảnh càng có chiều sâu nét mỏng hơn. Nói cách khác, với khẩu độ mở càng lớn, các chủ thể cách điểm căn nét (trước và sau) càng có xu hướng mất nét lớn hơn. Khẩu độ mở nhỏ làm tăng chiều sâu ảnh trường, tạo điều kiện để các chủ thể xa điểm căn nét chính về phía trước và phía sau đều nét hơn. Khẩu độ mở nhỏ thường được sử dụng để chụp phong cảnh khi đòi hỏi toàn bộ bức ảnh có độ nét (tương đối) như nhau, trong khi đó, khẩu độ mở lớn thường được sử dụng để chụp chân dung hay đặc tả trong đó chỉ có người/ vật cần nêu bật mới nét còn hậu cảnh và tiền cảnh mờ để làm tăng sự nổi bật của chủ thể chính.
• Diện tích khu vực nét. Với khẩu độ mở lớn, xung quanh điểm căn nét chính (có cự ly ngang bằng với chủ thể chính tới máy ảnh) có xu hướng nhòa mờ, càng xa chủ thể căn nét chính càng mờ hơn. Ngược lại, khẩu độ mở nhỏ khiến mọi vật xung quanh điểm căn nét tăng độ nét. Như vậy, nếu chụp một nhóm người, ta cần giảm khẩu độ mở xuống (tăng giá trị f/) – lên khoảng 5.6-8 – để bảm đảm mọi người trong ảnh đều nét.
• Hiệu ứng boke (bokeh). Hiệu ứng boke là sự xuất hiện của những vòng tròng sáng nhòa xung quanh các điểm sáng ở hậu cảnh, theo thẩm mĩ thời nay, các vòng tròn sáng này càng nhòa mịn càng đẹp, tạo ánh sáng lung linh lấp lánh cho hậu cảnh. Khẩu độ mở càng lớn thì hiệu ứng boke càng lớn (tất nhiên còn tùy thuộc vào chất lượng từng loại ống kính).
• Cường độ sáng xung quanh tâm điểm. Với khẩu độ mở nhỏ, ánh sáng trên toàn bức ảnh có xu hướng điều hòa hơn (sáng như nhau ở các khu vực khác nhau). Khẩu độ mở lớn tạo sự khác biệt giữa tâm điểm của bức ảnh với khu vực xung quanh. Khi đặt ở khẩu độ mở lớn, khu vực trung tâm bức ảnh sáng hơn, trong khi đó khu vực quanh tâm điểm giảm dần ánh sáng (rất ít và phải để ý mới phát hiện được; thường rõ hơn khi chụp diện tích lớn), càng xa tâm điểm độ sáng của ảnh càng yếu hơn.








Hình 3: Khẩu độ mở thay đổi chiều sâu ảnh trường (F/16 mở tới F/1.4)Hình 3: Khẩu độ mở thay đổi chiều sâu ảnh trường (F/16 mở tới F/1.4)

Với các ảnh hưởng này, việc điều chỉnh khẩu độ mở thực sự là một kỹ thuật khó, và càng khó hơn khi phải kết hợp với tốc độ cửa chập để tạo ra bức ảnh vừa đủ sáng, vừa có được các hiệu ứng khác mang tính nghệ thuật cho bức ảnh.

Các trường hợp thường cần khẩu độ mở lớn hơn (mở khẩu)
- Chụp trong điều kiện ánh sáng yếu
- Chụp chân dung
- Chụp đặc tả một chủ thể chính (người / vật)
- Tạo hiệu ứng xóa phông (hậu cảnh nhòa mờ)
- Tạo hiệu ứng boke
- Cần tăng tốc độ cửa chập để chống rung tay máy

Các trường hợp thường cần khẩu độ mở nhỏ hơn (khép khẩu)
- Chụp trong điều kiện ánh sáng mạnh
- Chụp nhóm người (càng nhiều người dàn hàng ngang hoặc đứng trước sau càng cần khép khẩu hơn)
- Chụp phong cảnh, kiến trúc
- Chụp tĩnh vật, quảng cáo cần mọi người/ vật đều nét
Ghi chú: Do các yêu cầu về kỹ thuật trong công nghệ sản xuất thấu kính và ống kính, ống kính có khẩu độ mở càng lớn, đặc biệt là duy trì được khẩu độ mở lớn trên toàn tiêu cự ở các ống zoom (tiêu cự thay đổi) mà vẫn cho hình ảnh đẹp thì giá thành càng cao, và càng đắt. Các ống kính có khẩu độ mở lớn luôn là niềm mơ ước của người chơi ảnh, dù là nghiệp dư hay chuyên nghiệp.


Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

Zoom bằng chân (kỳ 116)

Lẽ ra chưa giới thiệu đến bài này do hầu hết bè bạn còn dùng máy ảnh Kỷ thuật số_Loại lens liền thân máy_Nhưng do một đứa em xứ Tây Ninh đang cứ đắn đo lưỡng lự về mấy cái lens nên tranh thủ post trước :)

Nguồn bài viết ở đây:
http://baotreonline.com/Chuyen-muc-tre/Goc-nhiep-anh/zoom-bng-chan-k-116.html


Tác giả Andy NguyễnTác giả Andy Nguyễn

Nếu bạn thích những ống kính zoom (thay đổi tiêu cự), tôi chỉ khuyến khích bạn để qua một bên những thói quen đó một lúc, và “băng ngang”  một cái  cầu nối vào một lãnh vực nhiếp ảnh mới, đi “phiêu lưu” với chỉ một ống kính và một tiêu cự.
Đây là một công thức cho những người chơi ảnh và những nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp để phát triển kỹ năng về cách lấy khung:

1. Chọn một tiêu cự nhất định (35mm, 50mm, 85mm, 105mm - tùy bạn).
2. Tập thực hành với tiêu cự đó trong suốt buổi chụp, ngày, hoặc tuần.
3. Dùng “zoom bằng chân.”


Một số ống kính một tiêu cự (prime lens) của các hiệu Canon, Nikon, Tamron và SigmaMột số ống kính một tiêu cự (prime lens) của các hiệu Canon, Nikon, Tamron và Sigma

Có một số lý do ủng hộ sự lựa chọn một “prime” lens để chụp hình tổng quát ngoài trời. Tôi đã khám phá những lợi điểm này sau một thời gian kinh nghiệm “gồng vác” những ống kính zoom nặng nề .
Tất cả ảnh minh họa trong bài này đều được chụp với những ống kính prime vừa nhanh, vừa nhẹ cân. Một ống kính prime là một ống kính chỉ có một tiêu cự. Những tay chụp ảnh không tự hạn chế mình khi chỉ đem theo một ống kính prime? Không đâu – ngược lại, bạn được tự do thay đổi khía cạnh của cái nhìn, bước vào một khung cảnh để đắm chìm vào đó.
Trí óc sẽ đi theo mắt của mình. Cũng như đậu xe ở cùng một chỗ đậu mỗi ngày đi làm – có nhiều chỗ để bạn chọn nhưng bạn vẫn đậu ở một chỗ quen thuộc, để bạn biết xe của bạn ở đâu mà không cần phải nặn óc suy nghĩ khi ra khỏi chỗ làm cuối ngày. Con mắt của bạn sẽ học cách nhìn một phối cảnh ở một tiêu cự vì bạn luôn luôn dùng cùng một lối lấy khung khi bạn chụp với một ống kính prime.
Thay đổi tiêu cự với một ống kính zoom đòi hỏi phải cùng cả hai tay. Khi bạn đang đi ngoài đường, sự đòi hỏi này có thể làm bạn bị rối trí và không để ý những gì ngay trước mắt bạn. Khi chụp ảnh phiêu lưu, một ống kính prime có auto-focus cho phép bạn điều khiển máy ảnh của bạn với một tay và để tay kia được rảnh rỗi. Thông thường, bạn cũng đặt bố cục một cách hữu hiệu hơn nếu không dùng ống kính zoom. Những ống kính có một tiêu cự buộc bạn phải di chuyển để lấy bố cục đúng. Bạn phải đi tới hoặc đi lùi từ chủ thể của bạn, và “zoom” với đôi chân của bạn.


“Tâm tình”, ống kính 85mm f/1.4, ISO 200, f/2, 1/200s.“Tâm tình”, ống kính 85mm f/1.4, ISO 200, f/2, 1/200s.


Những người có ống kính zoom hoặc có máy ảnh bỏ túi (point-and-shoot camera) có thể chọn chỉ một tiêu cự để làm một bài tập. Đây có thể là một cách tập luyện “học nhìn” có hiệu quả. Dĩ nhiên, những ai có ống kính prime (thí dụ, 35mm f/1.8, hoặc 50mm f/1.8…vv.) có thể chỉ để ống kính đó gắn sẵn trên máy.
Trong những trường hợp đầy nhiệt khí, trong đám đông, hay khi bạn đi du lịch nước ngoài, thực tập càng nhiều với dụng cụ của bạn, bạn sẽ càng có nhiều cơ hội để chụp được những hình đẹp. Nên nhớ, quan điểm của bạn là dụng cụ quan trọng nhất bạn có thể đem theo khi đi chụp hình. Khi một học viên trong Lớp Nhiếp Ảnh của tôi hỏi rằng bộ phận nào của máy ảnh là quan trọng nhất, tôi trả lời, “Đó là nút ‘mở mang trí óc để thu thập kiến thức’ trên máy ảnh của bạn.”
Nhưng hãy trở lại những ý tưởng để tiến bộ cách lấy khung của bạn. Đây là hai quy tắc căn bản cho những người mới chơi ảnh và những NAG chuyên nghiệp:
- Bí quyết:
1. Gắn một ống kính “bửu bối” trên máy ảnh của bạn luôn luôn. Đây là ống kính mà bạn có thể dùng auto-focus, hoặc focus bằng tay, mà không cần phải nhìn nó, tập trung tinh thần của bạn vào bố cục bạn đang nhìn qua lỗ nhắm.
2. Chọn một tiêu cự và chụp với nó khoảng 100 tấm. Dùng nhiều ống kính khác nhau, nhưng để ống kính prime gắn sẵn trên máy như một ống kính ưu tiên. Thử những ống kính nhẹ tay, lấy nét nhanh. Để một ống kính wide angle lôi cuốn bạn gần vào khung cảnh, đến khi bạn tiếp xúc với cảnh đó, kết quả là những tấm ảnh bạn chụp cũng lôi cuốn người xem. Họ nên cảm thấy họ là một phần thân thiết của khoảnh khắc đó.
Bây giờ bạn đã biết một vài lợi điểm khi dùng ống kính “đơn-cự”, bạn hỏi, “Rồi sao nữa?” Bạn hẳn muốn chụp được những tấm hình tốt hơn với “công thức” này.
Khi bạn nhìn những tấm ảnh chuyên môn, lão luyện, nhìn kỹ vào cách lấy khung của ảnh. Tất cả mọi vật trong khung ảnh đều thích hợp với địa điểm của nó. Tất cả khoảng trống trong hình đều cân đối. Tập với một ống kính prime sẽ giúp bạn lấy khung tốt hơn; đặt một khung cố định lên trên khung cảnh trước mặt làm bạn và để ý nhiều hơn về không gian của ảnh, và rồi phát triển tay nghề đặt bố cục của bạn.
Bạn có thể kích thích cái nhìn của bạn bằng cách đơn giản hóa dụng cụ của bạn. Có lẽ bạn sẽ thấy rằng bạn tạo những tấm ảnh “ấn tượng” nhất khi bạn phải bước hai chân của mình để chụp được chúng. Nhiếp ảnh gia nổi tiếng Ernst Haas đã nói với kinh nghiệm của ông rằng, “Ống kính zoom lens tốt nhất là hai chân của bạn.”☺


“Hình vẽ trên tường”, ống kính 35mm f/1.8, ISO200, f/8, 1/160s.“Hình vẽ trên tường”, ống kính 35mm f/1.8, ISO200, f/8, 1/160s.